TRAN XUAN AN - PCDT NGUYEN VAN TUONG (tap II A)

Monday, December 12, 2005

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II A 6)

Tệp 6 - Tập II
(PHÂN ĐOẠN 6, TRUYỆN KÍ THỨ 7)

Sẽ đăng trên Tạp chí điện tử Giao Điểm
số tháng 12-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm

TRẦN XUÂN AN

CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874


Truyện kí thứ bảy
(phân đoạn 6)

14

Trong thời đoạn bi kịch đó, đúng như quan Thương bạc Nguyễn Hữu Lập tâu lên vua Tự Đức, ngoài vấn đề giáo dân Nghệ – Tĩnh tổ chức báo thù, nạn giặc biển người Tàu ở Bắc Kì vẫn rất căng thẳng. Lại thêm bọn giặc Cờ vàng Hoàng [Sùng] Anh và thổ phỉ, quan quân chưa đủ sức tiêu diệt hết ở vùng thượng du biên giới phía Bắc (195)!
Tháng hai Giáp tuất (1874), Rheinart vẫn đang rập rình tàu chiến, lăm le đạn pháo ở Hà Nội. Tháng sáu nguyệt lịch, tên giặc biển Khách Công tấn công Hải Dương với bốn mươi chiếc tàu thuyền, đánh phá các phủ, huyện, vây bức tỉnh thành (196)! Phái viên Pháp La Đăng (Dujardin) không thực tâm đánh giúp theo “hoà” ước Nhâm tuất 1862 (“hoà” ước Giáp tuất 1874 chưa có hiệu lực), mà chỉ quan tâm đến mỏ than, tính chuyện bóc lột khoáng sản (196)! Tôn Thất Thuyết và Lê Bá Thận phải từ hai tuyến, tiến ra Hải Dương cứu viện. Cơ mật viện thương thuyết với Pháp, Pháp vẫn lưng chừng, trong thâm tâm vẫn muốn nuôi dưỡng bọn hải tặc, hải phỉ này để làm sức ép với triều đình Đại Nam. Chỉ có một vài lần Pháp yểm trợ tổng đốc Hải – Yên Phạm Ý trong việc tiễu phỉ này (197)!
Ngay cả giải quyết vấn đề bọn tay sai do Françis Garnier phong làm quan chức cũng rất nan giải. Mùa đông năm ngoái, Quý dậu, phó sứ khâm sai đại thần Nguyễn Văn Tường xử trí bọn Việt gian, “tả đạo” làm tay sai cho Pháp bằng cách vẫn cho một vài tên tiếp tục làm với chức trách nhỏ để chúng “yên lòng phản trắc” (198). Bấy giờ, vua cho là khéo. Nay phải chấn chỉnh lại, vua Tự Đức không cho chúng tiếp tục làm quan của triều đình, lại trách Nguyễn Văn Tường lúc ấy xử trí vội. Trần Đình Túc xin vua tha cho chúng, đặc biệt là năm tên: Phạm Quang Diệu, Nguyễn Quý Cát, Lê Văn Tốn, Nguyễn Tích, Đỗ Đình Huyên. Quan họ Trần tâu rằng chúng đã thú tội và có cố gắng chuộc tội. Vua vẫn không đồng ý. Cơ mật viện (gồm Trần Tiễn Thành, Nguyễn Tư Giản, Phạm Phú Thứ, lúc này Nguyễn Văn Tường đã vào Gia Định) xin vua cứ sử dụng vì bọn ấy có lắm đồ đệ, sợ sẽ thêm rắc rối nếu vội sa thải chúng. Về sau, lãnh sự Pháp Kê La Đích (Kergaradec) lại bênh vực chúng. Dẫu thế, chẳng bao lâu chúng lại can án hoặc tự nghỉ việc (198).
Đó là một giai đoạn cực kì khó khăn và rất phức tạp! Ở đấy, cái đốn mạt, đê tiện, phi nhân nghĩa lại có dịp để bộc lộ một cách trắng trợn!
Nhưng đó còn là một giai đoạn bi kịch!
Phải chăng trong sự bế tắc chung của Đất nước và do bị thâm thủng tiền công ngoài ý muốn (mặc dù đã bồi thường gần đủ), bang biện Bắc – Thái Đặng Huy Trứ đã tự sát, vào cuối tháng bảy Giáp tuất (1874), với lời trăn trối xin đừng đưa thi hài về quê quán Bác Vọng, Thừa Thiên (199)?
Chính giai đoạn lịch sử này cũng đã tạo ra nhiều tình huống bi kịch và sản sinh ra không ít những con người mang tâm trạng bi kịch với những cách hành xử bi kịch!
Cộng vào nỗi đau bi kịch lịch sử ở Đàng Ngoài, còn có thêm nỗi đau xé ruột, nỗi đau dậy lên trong niềm phẫn nộ, khi Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản (ba đại thần Cơ mật viện – Thương bạc) tâu xin nhà vua giải quyết vấn đề người Nam Kì chạy trốn ra vùng tị địa tại Bình Thuận, Khánh Hoà (200). Trước đây, bốn mươi mốt người dân Nam Kì khốn khổ, gồm người Kinh lẫn người thổ, bị thực dân Pháp sai đi làm việc nặng nhọc dưới những ngọn roi da và dùi cui của chúng, họ đã thoát ra, tìm đến với bang biện khâm phái, điển nông sứ Phan Trung. Giữa tháng tám Giáp tuất (1874), tướng Pháp Krantz nghi ngờ triều đình Đại Nam vẫn tiếp tục huấn luyện người Nam Kì để lại đưa về Nam Kì tổ chức nổi dậy, khởi nghĩa, nên y gửi thư ra kinh đô Huế, đề nghị phải bắt giải giao cho y. Viện – Bạc tâu xin vua thoả hiệp với Krantz, thông tư cho tỉnh Bình Thuận yết nã ngay bốn mươi mốt người dân ấy, sau đó viết thư trả lời cho Krantz khỏi hiềm nghi! Vua Tự Đức đành đoạn đến tàn nhẫn nghe theo (200).
“Sách lược thoả hiệp tạm thời” với giặc xâm lược quả là quá đau xót, đến mức nhân dân đã căm phẫn kết án triều đình nhà Nguyễn “mãi quốc, khí dân” (bán nước, bỏ dân)! Bấy giờ, Nguyễn Văn Tường vẫn còn phải ở tại Gia Định (đến cuối tháng tám nguyệt lịch ông mới về đến Huế). Ông hết sức đau lòng, đã đấu tranh với Krantz, nhưng vẫn không thể can thiệp được, bởi điều khoản IX của “hoà” ước Nhâm tuất 1862 và điều khoản XVIII của “hoà” ước Giáp tuất 1874 ghi rõ, gần như giống hệt nhau: “Phàm có giặc ở địa phận nước [Nam Kì thuộc] Đại Pháp, như có phạm các tội làm loạn và trộm cướp, mà trốn [ra] địa hạt nước Đại Nam [từ Bình Thuận đến Cao Bằng], được quan nước Đại Pháp [thông] tư cho quan nước Đại Nam biết, thì quan nước Đại Nam tức khắc phải hết sức dò bắt, giao cho quan nước Đại Pháp xét xử”! Đó là nỗi đau một khi non sông đất nước vốn liền một dải từ Cà Mau đến Nam Quan, bỗng bị cưỡng ước chia cắt thành hai nước khác nhau: Nam Kì thuộc Pháp và Vương quốc Đại Nam thuộc triều đình Huế!

15

CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI GIÁP TUẤT 1874 (201)

“Điều ước thông thương (cộng hai mươi chín [29] điều) đã làm xong.
Ước rằng:
Nay vua nước Đại Nam và vua nước Pháp nhân muốn giữ vững lời thề hai nước kết giao với nhau và muốn cho tiện lợi dễ dàng về việc thông thương để rộng đường giàu thịnh hai nước, nên vua nước Đại Nam đặc cách phái Hình bộ thượng thư, Kì Vĩ bá, chánh sứ Nguyễn Văn Tường, Lại bộ thị lang, phó sứ Nguyễn Tăng Doãn đều sung chức giảng định thương ước toàn quyền đại thần.
Vua nước Pháp đặc cách phái khâm sai, tổng thống Nam Kì thuỷ lục quân dân, kiêm thống Đại Thanh, Nhật Bản lưỡng quốc ngoại dương chư binh thuyền, đại nguyên soái Kha Răng Du Ly Pha Lang Sa Ê Mi Ly [Krantz], khâm thưởng đại hạng thưởng công kim bội tinh, khâm sung giảng định thương ước toàn quyền đại thần.
Hai bên đã đem sắc chiếu được làm toàn quyền công đồng so sánh, tra xét, đều được thoả đáng, liền đem bàn lập điều khoản kê khai ở sau:
Khoản 1: Chiểu theo khoản thứ XI ở tờ hoà ước mới năm nay (ngày hai mươi bảy [27] tháng giêng [01] Nam, ngày 15 tháng 03 Tây), đã phân biệt nghị định: Vua nước Đại Nam chuẩn cho mở cửa biển Ninh Hải tỉnh Hải Dương ngược lên sông Nhĩ Hà suốt đến địa giới tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh và phố Hà Nội cùng cửa biển Thị Nại tỉnh Bình Định, cho thuyền buôn các nước ngoài, không cứ nước nào, hiệu cờ sắc gì, đều được đi lại mua bán ở các cửa biển ấy.
Khoản 2: Phàm các cửa biển đã chuẩn cho khai thương ở trong điều ước nên chiểu theo lệ hàng hoá được chở ra, chở vào, trị giá cứ một trăm (100) phần thì lấy ra năm (05) phần, đem nộp thuế quan. Khi đã nộp thuế xong, thì các hàng hoá đều được thông thương mua bán, thong dong tự tiện. Duy muối trắng nên chiểu giá cứ một trăm (100) phần, lấy ra mười (10) phần, để nộp thuế. Còn súng ống, khí giới, thuốc đạn, tất cả các loại về quân khí, đều không cho mua bán, không được vận chở ra vào. Lại mua bán thuốc phiện, nên chiểu theo lệ riêng của nước Đại Nam đã định. Còn như gạo, người buôn thường được tuỳ tiện chở vào cửa biển, vào phố, về thuế chỉ chiểu một trăm (100) phần, phải nộp năm (05) phần. Nếu tải ra khỏi cửa biển thì phải có giấy tờ rõ ràng của triều đình nước Đại Nam tạm chuẩn cho, và [thông] tư cho quan khâm sứ nước Pháp ở kinh [đô] biết, mới được tải ra; và thuế gạo tải ra phải chiểu một trăm (100) phần thu lấy mười (10) phần. Lại như vận chở tơ sống và gỗ thiết thường được vào cửa biển; nếu ra khỏi cửa biển, tất phải [được] các xã thôn sở tại nhận nộp thuế thổ sản xong, và phải đợi triều đình nước Đại Nam đặt mua các hạng ấy đủ dùng, việc xong, mới được chở ra; còn thuế lệ chiểu theo các hàng hoá nhận nộp năm phần trăm (5/100). Hai hạng ấy đến khi ấy nước Đại Nam cho chở ra hoặc không cho chở ra, đều nên trước khi ấy một (01) tháng, [thông] tư cho quan khâm sứ nước Pháp ở kinh biết. Trong đó, các hạng cấm, trừ các thứ khí giới, thuốc đạn, súng ống, đồ dùng về việc quân, không có triều đình nước Đại Nam cho chở thì không được chở; không kể ngoài ra những hàng hoá khác có lệ cấm đều cho tải từ nước ngoài đi qua suốt đến Vân Nam và chở từ Vân Nam đi qua ra biển, thì không cùng can thiệp. Duy triều đình nước Đại Nam tuỳ tiện được nghị định quy luật điều lệ để ngăn ngừa hoặc có kẻ đem hạng cấp [:cấm (?)] ấy giả mạo, đem lên bộ trà trộn vào trong địa hạt nước mình. Phàm các hàng hoá được tải đi qua, hoặc từ biển vào tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh hoặc từ tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh mà ra biển, thì mỗi khi tải đến địa hạt nước Đại Nam, chiểu nộp thuế quan một lần thôi. Phàm hàng hoá vào cửa biển đã theo thuế lệ chiểu nộp thuế quan, mà hoặc có từ tỉnh này tải đến tỉnh khác, từ phố này tải đến phố khác, chuyển đi mua bán với nhau, đều không được định thêm số thuế lệ nào khác.
Lại muốn cho hai nước khỏi sinh dị nghị, cho nên lần này phải nghĩ nhất định. Phàm thuyền buôn nước Đại Thanh chở hàng hoá vào, ra, về hạng cấm cùng thuế quan, phải chiểu theo hàng hoá được tải ra, vào của các hiệu thuyền Tây và Tân thế giới (tức hai tờ ước gọi là Cờ các nước ngoài) theo nộp như nhau. Duy thuế phải nộp của các thuyền buôn nước Đại Thanh và nước Đại Nam là bao nhiêu, đều thuộc về quan ti thuế quan nước Đại Nam thu riêng, cất riêng; muốn chi tiêu việc gì, chỉ quan nước Đại Nam tính liệu riêng mà thôi. Còn như hàng cấm thì thuyền buôn nước Đại Nam cũng giống như các nước.
Khoản 3: Phàm thuyền buôn ra vào cửa biển hai lần đều có chở hàng hoá thì phải cứ trọng tải mỗi tôn [:tấn] nộp tiền thuế đèn chỉ đường và thuế bỏ neo là ba (03) đồng cân bạc. Nếu có thuyền nào lúc vào không có hàng hoá, mà lúc ra chở hàng hoá hoặc lúc vào có hàng hoá, mà lúc ra không có hàng hoá, phải cứ trong tải mỗi tôn nộp bạc thuế một (01) đồng cân năm (05) phân. Nếu ra vào hai lần đều không chở hàng hoá thì miễn cho tiền thuế. Lại như sức thuyền chở được hai mươi (20) phần mà hàng tải trong thuyền chưa tới một phần, giá trị mỗi tôn [:tấn] lại không tới năm (05) quan tiền thì cũng coi như thuyền ra vào đều không chở hàng hoá, miễn tiền thuế tất cả.
Khoản 4: Phàm hàng hoá từ Gia Định chở đến cửa biển nước Đại Nam hiện cho cho mở mang buôn bán, hoặc muốn đi thẳng sông Nhĩ Hà, chở đến địa giới Vân Nam, lại từ địa giới tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh, hoặc từ các cửa biển nước Đại Nam hiện cho mở mang buôn bán mà chở đến Gia Định, về hàng hoá nên chiểu theo cùng với thuế lệ đã định về hàng hoá từ xứ khác chở đến cửa biển mở mang buôn bán ở nước Đại Nam hoặc lên thẳng Vân Nam và từ Vân Nam hoặc từ cửa biển mở mang buôn bán ở nước Đại Nam chở đến xứ khác, [thì] chước thu nửa phần mà thôi.
Lại muốn lấp hẳn tệ dối trá mà phải thực có bằng cứ, cho nên phàm thuyền nào hàng hoá từ Gia Định chở đi, phải có quan tấn thủ nước Pháp và quan lãnh sự nước Đại Nam ở Gia Định cấp giấy kí tên đóng ấn làm bằng, mới được chước giảm. Thuyền nào từ địa giới Vân Nam hoặc từ các cửa biển hiện cho khai thương ở nước Đại Nam mà chở đến Gia Định thì ti thuế quan có thể tuỳ tiện bắt mượn người bảo lãnh số thuế nửa phần đã nói trên. Nếu không có người bảo lãnh hoặc có bảo lãnh mà không đủ làm bằng, cũng có thể bắt phải nộp cả số thuế nửa phần được chước giảm ấy. Đợi có bằng cứ đích thực, sẽ trả lại sau.
Khoản 5: Hai tỉnh Bình Thuận và Biên Hoà do [:theo] đường bộ đi lại buôn bán thì từ trước đến nay hạng thuế nào có thu hay không, nay nên vẫn như cũ, không nên thêm bớt, thay đổi. Đợi sau khi thương ước cùng giao cho nhau, hạn trong một năm, sẽ nghĩ định điều riêng về buôn bán đường bộ, phụ theo điều ước ấy. Tuy vậy có người ở địa hạt nước Đại Nam mua ngựa đem đến tỉnh Biên Hoà để bán, thì tất phải chiểu theo thuế lệ hiện hành, không nên gia nặng thêm.
Khoản 6: Muốn được chiểu liệu đánh thu thuế quan và khỏi để khách buôn các nước ngoài trở ngạnh [:ngáng trở] với quan nước Đại Nam, cho nên triều đình nước Pháp giúp triều đình nước Đại Nam lựa chọn viên quan nước Pháp, nhưng phải theo quan Bộ Hộ nước Đại Nam chỉ bảo, đủ để theo giúp việc thuế quan. Triều đình nước Pháp cũng giúp triều đình nước Đại Nam tìm cách tuần phòng ngoài biển, cốt được nghiêm mật, để giữ cho dân buôn. Phàm trước khi chưa bồi xong số bạc bồi phí tổn còn thiếu của nước Y Pha Nho, thì không được thuê người nước Tây nào khác không phải là người nước Pháp mà quan khâm sứ hoặc quan lãnh sự có ý không bằng lòng cho làm việc thuế quan. Đợi khi nào bồi xong số bạc thiếu của nước Y Pha Nho và quan nước Đại Nam đã am hiểu việc đánh thuế, thu thuế, không phải phiền cậy người nước Pháp làm giúp, thì đến khi ấy hai nước sẽ hội nghị nên làm thế nào, tuỳ tiện thay đổi.
Khoản 7: Phàm ti thuế quan ở các cửa biển đã mở ra cho các người nước ngoài thông thương đều thuộc quan nước Đại Nam, một viên đóng ở cửa Ninh Hải để trông coi, lại có một viên người nước Pháp giúp nước Đại Nam giữ việc thuế quan của người buôn nước Tây cũng cùng đóng ở cửa biển ấy. Phàm luật lệ thuế buôn ở các đồn thuế quan ấy, do hai viên ấy cộng đồng làm cho thoả đáng. Các người Tây theo làm việc ở các đồn thuế quan đều do quan nước Pháp ấy cai quản cả. Viên ấy cũng có thể thời thường gửi thư cho quan lãnh sự và quan khâm sứ Pháp để bày tỏ các việc thuế quan và thông thương. Còn hai viên quản lí và thống nhiếp ấy, đến khi việc thu thuế, nếu có khoản nào phải tư trình quan Bộ Hộ nước Đại Nam xét bảo, thì đều phải cùng kí tên [thông] tư đi. Trong đó, nếu có khoản nào hai viên ấy ý kiến không hợp nhau thì đều cứ đem ý kiến của mình tư [trình] cho quan Bộ Hộ xét xử.
Khoản 8: Phàm người nước Pháp theo giúp nước Đại Nam, nên được phẩm trật, lương bổng và cùng với quan Đại Nam đi lại lễ tết, nên ở thứ bậc nào, sẽ đợi hai nước hội đồng bàn định.
Khoản 9: Phàm sổ sách biên thu thuế lệ, nên đều làm riêng 02 bản: 01 bản để ở ti thuế quan người buôn nước Tây, 01 bản để ở ti thương trường chiểu thu các thuế quan do triều đình nước Đại Nam đã định. Về đơn nộp thuế cùng giấy biên hoặc chi tiêu tiền bạc ở kho ấy ra, đem để ở kho khác, cũng phải có chữ của quan nước Đại Nam và quan nước Pháp kí tên, đóng ấn. Cứ đến cuối tháng, đều đem sổ thuế hội đồng đối chiếu.
Khoản 10: Phàm chi phí trong một năm, phải lấy ở tiền thuế đèn chỉ đường và bỏ neo để chi. Nếu hạng ấy chi không đủ, lại cho lấy ở các thuế quan, nhưng không được chi quá nửa phần.
Về việc nên chi:
a. Cấp phát lương bổng cho người Tây theo giúp việc thuế quan ở nước Đại Nam, cùng quan viên nước Đại Nam và ngoài ra [là] quan viên nước khác dự làm việc thuế không phải ở Phương Tây.
b. Dựng làm các sở nha môn, sảnh, thự ở ti thuế quan.
c. Tu bổ thuyền cắm đèn, cột đèn.
d. Đào sông, đo nước cùng tất cả các khoản chi phí mà có ích cho việc buôn bán.
Khoản 11: Phàm thuế lệ đã định ở điều ước thông thương này, phải theo giữ kể từ khi [tiến hành nghi thức] giao cho nhau, hạn đủ mười (10) năm. Trong hạn ấy, nếu có khoản nào nên sửa đổi, thì kể từ ngày trong hai nước, có một nước xướng nghị trở về sau, đủ một năm, được hai nước hội đồng bàn định, mới được thay đổi.
Khoản 12: Phàm người buôn các nước cùng với các quan viên ti thuế quan có vì sự lệ thuế quan mà không bằng lòng, sinh ra kiện tụng, thì do quan sở tại nước Đại Nam cùng với quan lãnh sự nước Pháp hội đồng xét xử.
Khoản 13: Phàm các thuyền của nước Pháp và nước khác đến cửa biển nước Đại Nam hiện chuẩn cho khai thương, đều cho thuê người dẫn thuỷ dẫn đường vào cửa biển. Khi nào thuyền ấy tuân theo nộp thuế lệ mà muốn ra khỏi cửa biển, cũng được thuê người dẫn thuỷ dẫn ra, đều không ngăn trở để chậm. Người nào muốn làm nghề dẫn thuỷ phải có ba (03) người chủ thuyền buôn biên giấy nhận thực, người ấy thực là có thể làm được thì quan lãnh sự nước Pháp và quan tấn thủ nước Đại Nam cấp bằng cho làm dẫn thuỷ. Về giá thuê dẫn thuỷ, phải do quan tấn thủ và quan lãnh sự hoặc phó lãnh sự chiểu theo cửa biển xa hay gần, hiểm trở hay dễ dàng liệu định.
Khoản 14: Hễ người dẫn thuỷ dẫn thuyền nước ngoài vào cửa biển xong, quan ở ti thuế quan phái ngay một, hai người coi giữ, để thuyền ấy khỏi thầm trái điều lệ thuế buôn. Các người coi giữ ấy được tuỳ tiện hoặc ở thuyền mình, hoặc ở thuyền buôn ấy. Còn như lương bổng, tiền bạc ăn hằng ngày và tiêu dùng, sẽ do ti thuế quan chi cấp, không được đến chủ thuyền và chủ hàng hoá ấy đòi tính tiền phí tổn. Nếu trái lệnh thì chiểu tính tang đòi lấy ấy nhiều hay ít, [mà] trị tội, rồi đòi lại tiền tang, đưa trả sự chủ.
Khoản 15: Phàm thuyền buôn các nước ngoài đến cửa biển hiện chuẩn cho thông thương, hạn một ngày đêm, trừ ra thuyền nào thực có duyên cớ trở ngại, chủ thuyền, chủ hàng hoá ấy hoặc người thay mặt phải đem ngay bài thuyền, hoá đơn, tên người, đưa trình quan lãnh sự nước Pháp. Lại hạn một ngày đêm, quan lãnh sự ấy đem cả tên thuyền, tên người và lệ trọng tải cùng hàng hoá gì, số là bao nhiêu, khai rõ kĩ càng, chuyển tư [trình] cho quan ti thuế quan biết. Nếu chủ thuyền ấy lười biếng, khinh nhờn mà sau khi vào cửa biển đã hai ngày đêm, chưa chịu tuân theo lệ ấy, thì cứ quá một ngày đêm, phạt bạc năm mươi (50) đồng. Về tiền phạt, chỉ đến hai trăm (200) đồng là cùng. Còn tiền phạt ấy được thu vào kho thuế quan. Quan ở ti thuế quan đã tiếp được quan lãnh sự tư [trình] đến, tức thì cấp phát giấy biên, cho chủ thuyền ấy mở khoang thuyền bốc hàng hoá. Nếu chủ thuyền ấy chưa lãnh được giấy biên mà đã vội mở khung [:khoang] thuyền bốc hàng hoá, thì phải phạt bạc chỉ năm trăm (500) đồng, và tất cả hàng hoá bốc ra khỏi thuyền đều phải tịch thu vào kho thuế quan.
Lại thuyền buôn vượt biển, như có mang theo súng ống, thuốc đạn để tự vệ, mà đã có biên kê ở trong bài thuyền, thì lúc mới đến đồn cửa biển, kê khai đơn hàng, cũng đều khai cả một thể. Nếu quan nước Đại Nam cho là súng ống, khí giới, thuốc đạn ấy không tiện để ở thuyền, thì chủ thuyền ấy phải đem súng ống, thuốc đạn ấy lên trên cạn, nộp gửi quan tán thủ ở đồn địa đầu và quan lãnh sự nước Đại Pháp. Đợi khi nào thuyền ấy hoặc ra khỏi cửa biển hoặc chuyển về tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh thì trả lại. Như từ cửa biển Hải Ninh mà chuyển đến Vân Nam, khi đi có phải mang theo khí giới để tự vệ, thì do quan quản lí nước Đại Pháp và quan lãnh sự nước Pháp hội đồng liệu định. Trái lệ ấy thì súng ống, khí giới, thuốc đạn, đều [bị] tịch thu vào kho công nước Đại Nam, lại phạt bạc chỉ đến năm Trăm (500) đồng.
Lại có thuyền nào là người nước Tây và nước Tân thế giới chở trộm khí giới, thuốc đạn lên bộ trong địa phận nước Đại Nam, nếu khí giới, thuốc đạn ít thì thu lấy nộp vào kho công, lại phải phạt bạc năm trăm (500) đồng; nhiều mà có ngại, thì có thể lại bắt giam, thuyền ấy bị tịch kí, và tịch kí cả hàng hoá ở thuyền hoặc tịch kí mấy phần, tới khi ấy sẽ tuỳ nặng nhẹ nghĩ định. Còn như tịch kí án ấy thì hai nước xét xử.
Khoản 16: Phàm chủ thuyền và người buôn các nước ngoài cho được tuỳ ý thuê mượn thuyền vận tải, thuyền nhỏ để chở người đi và hàng hoá, còn giá thuê thuyền đó là bao nhiêu, cho hai bên đối giá vừa phải với nhau. Quan nước Đại Nam không phải trông nom giúp. Nếu thuyền đò ấy hoặc có lừa dối chở của cải của người buôn chạy mất, thì quan nước Đại Nam cũng không có lí phải bảo hiểm và bồi thường. Các thuyền đò ấy không phải hạn số là mấy chiếc, cũng không nên cho người giữ lấy, và không cho người phu khuân vác nắm cả bốc hàng lên, đưa hàng xuống.
Khoản 17: Phàm người buôn các nước ngoài, mỗi lần bốc hàng [lên,] đem [hàng] xuống, phải kê khai đơn hàng trước cho minh bạch, đệ trình quan lãnh sự. Quan lãnh sự ấy tức thì chuyển tường quan ở ti thuế quan, [để xin] cấp giấy chuẩn cho bốc hàng lên, đem hàng xuống. Nhưng tra xét các hàng hoá đã khai ấy cho thoả đáng, để cho đôi bên đều không phải thiệt.
Hễ khi xem xét hàng hoá định thuế, người buôn ấy nếu không muốn tự phải cùng xét, phải uỷ người am hiểu làm thay, thì cũng cho tuỳ tiện. Nếu đương lúc xét hàng hoá định thuế, mà người buôn ấy không theo lệ cùng xét, thì sau dù có kêu ca gì cũng không được chấp nhận. Hoặc nếu người buôn cùng với quan ở ti thuế quan định giá hàng hoá có không hợp, thì hai bên đều nên chiêu tập người buôn mỗi bên hai, ba (02, 03) người, đến đấy đối chiếu, cùng so sánh giá. Trong đó, có người nào trị giá cao, thì phải theo giá ấy mà đánh thuế.
Phàm nộp thuế quan thì lấy hàng hoá trần làm đích. Nếu có gói bọc, thì phải bỏ đi. Nếu người buôn cùng ti thuế quan so sánh định bì gói của hàng hoá không hợp, thì hai bên đều đem một, hai hòm, thùng, bao hàng hoá ấy có cả bì đem cân qua, xem nguyên nặng là bao nhiêu. Lại bỏ bì ra cân nặng là mấy cân, rồi sau đem các thứ nặng nhẹ không đều nhau tính suốt, chia đều làm chuẩn đích. Cái khác theo lệ ấy mà suy ra.
Nếu đương lúc kiểm tra hàng hoá mà có gì ngăn trở không thể phân giải được thì người buôn ấy nên lập tức xin quan lãnh sự liệu định. Quan lãnh sự ấy cũng tư [trình] cho quan ở ti thuế quan biết. Trong đó, hết sức điều đình làm cho phải, cốt cho hai bên cùng bằng lòng. Duy người buôn ấy có kêu ca gì, không [quá] ở trong hạn một ngày đêm. Nếu quá hạn, hết thảy không được chấp nhận đơn. Lại đương lúc hai bên không hợp nhau, chưa được xét định, thì quan ở ti thuế quan, chờ đem hàng hoá ấy biên vào trong sổ. Đợi hai bên xét rõ thoả đáng, mới được ghi chép vào sổ. Lại vì hàng hoá có bị duyên cớ gì mà thiếu hụt, thì lập tức phải khám xét lại. Về thuế cũng chiểu số thiếu hụt là bao nhiêu, lượng giảm, hoặc nên chiểu theo như trên, chiêu tập các người buôn đã am hiểu đối chiếu, xét xem cũng được.
Khoản 18: Phàm các thuyền buôn đã vào cửa biển hiện chuẩn cho khai thương, mà chưa lãnh giấy cấp cho bốc dỡ hàng như khoản trên đã nói, thì hạn cho hai ngày đêm có thể ra khỏi cửa biển đi đến cửa biển khác, [và ở trường hợp này] thì thuế quan, thuế hàng hoá, cửa biển ấy không phải đòi thu. Đợi đến cửa biển khác, bán hàng hoá, sẽ phải chiểu lệ nộp thuế.
Khoản 19: Phàm chủ thuyền hay người buôn, [tuân] điều lệ dỡ hàng nộp đủ thuế, đều chiểu theo hàng hoá đã dỡ ấy [mà] đã được xét, lần lượt nộp thuế; bốc hàng xuống thuyền để xuất khẩu, cũng chiểu theo lệ ấy mà làm. Các thuế thuyền, thuế hàng hoá đã nộp đủ xong rồi thì quan ở ti thuế quan phải cấp ngay cho giấy biên nhận đã thu cả để trình quan lãnh sự xét rõ, đem ngay bài thuyền và các giấy biên đã nộp trước giao trả, chuẩn cho ra khỏi cửa biển. Tuy vậy, nếu chủ thuyền ấy cùng ti thuế quan hợp ý, mà muốn cho việc buôn bán được tiện lợi dễ dàng, thì cũng được chiểu theo bài thuyền và hoá đơn mà đánh thuế, thu thuế, không phải đợi dỡ bốc hàng để khám xét.
Khoản 20: Phàm thuyền buôn tiến đến cửa biển đã qua hạn hai (02) ngày đêm như khoản mười tám (18) đã định, và trước khi chưa bốc dỡ hàng hoá, phải đem ngay tiền thuế đèn chỉ đường và bỏ neo nộp đủ, theo như khoản thứ ba (03) đã định; không được lại sinh cớ khác yêu sách tính tiền phí tổn. Lúc nộp tiền thuế, quan ở ti thuế quan cấp phát ngay giấy chấp chiểu, khai rõ thuế thuyền đã từng nộp xong. Nếu thuyền ấy tuỳ tiện chở đến cửa biển khác, đem ngay giấy chấp chiểu ấy đưa trình quan ở ti thuế quan sở tại tra xét quả thực, thì miễn nộp thuế thuyền lần nữa.
Lại phàm thuyền buôn các nước ngoài đến buôn ở cửa biển nước Đại Nam hiện chuẩn cho khai thương mỗi một (01) lần từ nước ngoài tiến đến nước Đại Nam, chỉ nộp thuế thuyền một (01) lần mà thôi.
Khoản 21: Phàm thuyền buôn các nước ngoài đã tiến vào cửa biển hiện chuẩn cho khai thương, nếu đem hàng hoá bốc lên ít nhiều ở cửa biển ấy, thì chiểu số hàng hoá đã bốc ấy nộp thuế. Về hàng hoá còn lại tuỳ ý mang đến cửa biển khác bốc lên để bán, thì phải đợi đến khi đến cửa biển khác sẽ nộp. Nếu có thuyền nào ở cửa biển đã đem thuế hàng hoá nộp đủ xong việc, muốn đem hàng hoá ấy chuyển đến cửa biển khác để bán, thì bảo rõ với quan lãnh sự, [thông] tư cho quan ở ti thuế quan biết; xét rõ hàng hoá ấy quả là nguyên phong, không động đến, thì phải cấp cho bài chỉ, giữ làm bằng; chưa rõ hàng hoá ấy đã từng nộp đủ thuế ở cửa biển nào, để cho cho người buôn ấy đến cửa biển khác, chỉ đem bài chỉ ấy trình quan lãnh sự, chuyển đưa cho quan ở ti thuế quan sở tại tra xét, miễn thuế cho, liền cấp ngay bài chỉ bốc dỡ hàng hoá, tất cả tính tiền phí tổn đều không. Duy lúc quan ở ti thuế quan xem xét hàng hoá ấy, thấy đích thực có tình tệ lậu thuế hàng hoá và gian dối, tức thì tịch thu hết hàng hoá ấy vào kho thuế quan.
Khoản 22: Phàm hàng hoá trong thuyền người buôn, trừ [trường hợp] được có giấy tờ cấp riêng và gặp có việc cần phải chuyển vận không kể, ngoài ra không được tự tiện chuyển vận đến thuyền khác, chỗ khác; gặp có việc không chuyển vận không được, người buôn ấy phải báo rõ với quan lãnh sự cấp cho giấy chấp chiểu, đệ trình quan ở ti thuế quan xét và chuẩn cho, nhưng phải sai nha thuộc đến nơi khám xét. Nếu không phải vì nguy hiểm và chưa lãnh giấy tờ mà tự tiện chuyển vận, thì những hàng hoá đã chuyển vận ấy đều [bị] đem tịch thu vào kho thuế quan.
Khoản 23: Phàm các nha thuế quan ở các cửa biển thông thương đều lãnh các thứ cân, quả cân, trượng, thước của Bộ Hộ nước Đại Nam ban cấp cho, mỗi thứ một bộ, và phải lãnh một bộ đưa đến để ở dinh quan lãnh sự. Các cân, thước nặng nhẹ, dài ngắn, chiểu theo giống như của nước Đại Nam vẫn dùng không khác. Mỗi cái đều có khắc ghi dấu tích của Bộ để làm chuẩn đích. Phàm cân đo hàng hoá ở thuyền cùng thuế quan và số bạc chi cấp, đều theo cân và quả cân ấy giao dịch với nhau. Nếu hai bên có tranh dài, ngắn, nặng, nhẹ không nhất định, thì lấy cân thước ấy làm nhất định.
Khoản 24: Phàm chủ thuyền và người buôn ra vào các cửa biển thông thương, người nào dám chở trộm hàng hoá gì ra vào cửa biển, thì không kể chở nhiều hay ít, hàng hoá gì, giá bao nhiêu, cùng vật cấm đã chở mà trá mạo đem lên bờ, đều phải do quan địa phương sở tại tra bắt, tịch thu vào nhà nước. Triều đình nước Đại Nam lại có thể sức [:truyền lệnh] bắt thuyền buôn ra khỏi cửa biển, sau này không được lại đến buôn bán ở các cửa biển thông thương của nước Đại Nam nữa.
Lại nếu có thuyền buôn nước này mà dám giả mạo dùng cờ hiệu của nước khác, thì do quan nước Pháp tuỳ việc tìm cách ngăn cấm trừng trị, để ngăn thói điêu. Lại phàm tiền phạt cùng hàng hoá tịch thu đem bán được tiền là bao nhiêu, đều thu vào kho thuế quan.
Khoản 25: Vua nước Pháp được tuỳ tiện phái tàu binh đậu ở cửa biển hiện chuẩn cho họ thông thương ở nước Đại Nam, để đàn áp thuỷ thủ các thuyền buôn, và giúp uy quyền cho quan lãnh sự. Lại sẽ định điều luật hạn chế để khỏi do tàu binh ấy đậu ở sông và cửa biển mà gây ra sự trở ngại. Phàm tàu binh đều miễn nộïp các hạng thuế quan và tiền lương.
Khoản 26: Phàm tàu binh nước Pháp đi lại tuần phòng, hộ vệ thuyền buôn, hễ đến cửa biển nào ở nước Đại Nam, đều lấy tình hữu nghị tiếp đãi. Các tàu binh ấy được nhờ mua các vật ăn dùng. Nếu có hỏng cũng được mua các vật liệu tu bổ; [việc mua vật liệu ấy] đều không trở ngại.
Tàu buôn các nước ngoài nếu có hư hỏng và các việc nhân nạn bão nguy cấp, cần phải tiến đến cửa biển để lánh, thì không cứ cửa biển nào, cũng chiểu lệ ấy trông coi, đối đãi. Nhưng tàu ấy cũng phải đậu tạm, đợi yên lặng thì phải đi ngay, không được đậu lâu, bốc dỡ hàng hoá buôn bán. Nếu các hạng tàu ấy không may đắm vỡ ở gần biển nước Đại Nam, quan địa phương sở tại khi nghe tin báo, phải cứu vớt ngay và liệu biện pháp giúp các việc cần dùng. Lại tìm cách cứu giúp vật liệu, hàng hoá ở thuyền ấy; rồi [thông] tư ngay cho quan lãnh sự gần đấy biết, [để] hội đồng với quan địa phương tìm cách cho các người chân sào [:thuỷ thủ] ở thuyền buôn ấy về nước, và đem giả các thứ ván gỗ, hoá vật hiện vớt được, như được hạng nào, bao nhiêu, giao trả cho chủ cũ.
Còn như cửa biển Thuận An, là nơi gần đường sông kinh đô nước Đại Nam, các hạng tàu binh, tàu buôn ấy không được chạy đến đậu lại. Nếu tàu binh nước Pháp có được phái đến việc công gì với triều đình nước Đại Nam hoặc với quan khâm sứ nước ấy, mà xin vào cửa biển ấy, đến khi ấy phải có nước Đại Nam chuẩn cho vào cửa biển mới được chạy vào.
Khoản 27: Phàm thuyền buôn nước Đại Nam nếu buôn bán ở nước Pháp, hoặc [ở] thuộc địa nước ấy như các cửa biển ở sáu (06) tỉnh Nam Kì, cũng chỉ chiểu theo như thuyền buôn của nước mà nước Pháp đối đãi rất hậu (:tối huệ quốc), nộp các hạng thuế quan.
Khoản 28: Triều đình nước Pháp lại xin theo khoản thứ hai (II) trong tờ hoà ước ngày mười lăm (15) tháng ba (03) Tây năm nay đã nói, phải hết sức đánh giết giặc thuỷ, bộ, [vốn] làm ngăn trở đường buôn bán; mà ở các cửa biển, các phố gần đây hiện chuẩn cho thông thương, càng phải hết sức [đánh dẹp giặc cướp], để cho người buôn được thông hành buôn bán.
Khoản 29: Thương ước này cũng nên phụ với hoà ước mới năm nay (ngày hai mươi bảy [27] tháng giêng [01] Nam: 15 tháng 03 Tây) cùng chiểu theo một thể mà làm. Hễ việc giao cho nhau [:hỗ giao] xong, hai nước phải nên theo giữ. Nếu thương ước ấy [:này] làm [lễ hỗ giao] xong kịp, cũng không được quá ngày 15 tháng 03 Tây năm sau. Nên khâm sai toàn quyền đại thần hai nước đều phải kí tên, đóng ấn làm bằng cứ.
Thương ước trên này viết bằng chữ Tây và chữ Nam, mỗi thứ hai (02) bản; [đã] đối chiếu [bản] chữ Tây, [thấy:] phù hợp với những điều đã thoả định ở Phủ Nguyên soái thành Gia Định. Niên hiệu biên ngày hai mươi (20) tháng bảy (07) năm Tự Đức thứ hai mươi bảy (27), tức lịch Tây ngày 31 tháng 08 năm 1874.
Lại
TỤC NGHỊ:
Toàn quyền đại thần hai nước định thêm một khoản, để khỏi sau này một, hai câu trong thương ước, hoà ước có nghĩa ngờ. Khoản ấy cũng phụ theo với thương ước theo giữ như nhau.
Và xét phố Hà Nội đã cho người Tây các nước ngoài đến buôn, thì phải đặt một quan lãnh sự và lính đi theo. Và người buôn nước Tây làm nhà cửa chứa hàng hoá, ở, buôn bán, và một sở thuế quan theo như cửa biển Thi Nại và Ninh Hải, nếu sau lại xét ti thuế quan cửa Ninh Hải đủ để đánh thuế, thu thuế, thì ti thuế quan Hà Nội được bỏ bớt ngay. Nhưng quan lãnh sự cùng lính đi theo và người buôn nước Tây vẫn ở lại Hà Nội buôn bán. Nơi mà nước Đại Nam đã cho các quan lãnh sự nước Pháp và lính đi theo ở, mỗi nơi đất rộng theo thước Nam là năm (05) mẫu, thành thước Tây ước hai (02) mẫu rưỡi (1/2). Đất ấy không phải trả tiền. Nếu người buôn nước Tây có mua đất làm nhà, thì phải chiểu giá trả tiền, mà quan nước Đại Nam cùng quan lãnh sự nước Pháp ở đấy hội đồng định giá, cốt được vừa phải.
Lại người buôn nước Tây làm nhà, tất phải gần nha thự quan lãnh sự; không được xâm phạm đến chùa, miếu, phần mộ. Trong đó nếu có nhà của người mà chủ nhà tình nguyện bán đi, thì người Tây mới được chiểu giá nộp trả, cần phải xứng đáng. Phàm đất người buôn Tây đã ở, phải nộp thuế lệ bao nhiêu, đều theo lệ định hiện nay theo thế mà nộp thôi, không có thuế khác ở ngoài lệ. Còn như lãnh sự và lính đi theo đóng ở Ninh Hải, nay hãy ở lại đồn Ninh Hải, để tiện tuần phòng, kiểm xét, đợi khi nào việc buôn yên ổn, quan lãnh sự và lính đi theo ấy lại dời đến ở chỗ đất năm (05) mẫu của nước Đại Nam đã cho; còn đồn Ninh Hải giao lại cho quan nước Đại Nam coi đóng.
Niên hiệu biên ngày hai mươi (20) tháng bảy (07) năm Tự Đức thứ hai mươi bảy (27), tức lịch Tây là ngày 31 tháng 08 năm 1874.
Lại
TỤC NGHỊ:
Hình bộ thượng thư, Kì Vĩ bá, sung chánh sứ toàn quyền đại thần của nước Đại Nam Nguyễn Văn Tường; tổng thống Nam Kì thuỷ lục quân dân, kiêm thống Đại Thanh, Nhật Bản lưỡng quốc ngoại dương chư binh thuyền đại nguyên soái của nước Đại Pháp Kha Răng [Krantz], được thưởng đại hạng thưởng công kim bội tinh, sung toàn quyền đại thần; hội đồng nghĩ định, đem các lời nói ở khoản thứ hai (02) trong thương ước năm nay (biên ngày hai mươi (20) tháng bảy (07) Nam, ngày 31 tháng 08 Tây) nói:
Từ chữ “Nhất định phàm thuyền buôn nước Đại Thanh chở hàng hoá ra, vào, về hạng cấm cùng thuế quan, phải chiểu theo hàng hoá được tải ra, vào của các hiệu thuyền Tây và Tân thế giới (tức hai tờ ước gọi là Cờ các nước ngoài) theo nộp như nhau. Duy thuế phải nộp của các thuyền buôn nước Đại Thanh và nước Đại Nam là bao nhiêu, đều thuộc về quan ti thuế quan nước Đại Nam thu riêng, cất riêng; nếu muốn chi tiêu việc gì, chỉ quan nước Đại Nam tính liệu riêng mà thôi. Còn như hàng cấm thì thuyền buôn nước Đại Nam cũng giống như các nước”.
Nay nên nghĩ lại rằng: Phàm thuyền buôn của nước Đại Thanh cùng thuyền buôn của nước Đại Nam chở hàng hoá từ nước ngoài vào các cửa biển nước Đại Nam hiện chuẩn cho khai thương, hoặc từ các cửa biển nước Đại Nam hiện chuẩn cho khai thương ra các nước ngoài, thì lệ cấm và thuế quan cũng giống như thuyền buôn hiệu cờ nước Tây và Tân thế giới chở hàng hoá ra vào. Còn thuế lệ cũng thuộc viên quan ở ti thuế quan thu cất, cùng [thuế lệ áp dụng cho thuyền buôn] các nước giống nhau, không khác. Ngoài ra theo như khoản cũ. Điều ấy đợi đến khi thương ước đã định ngày ba mươi mốt (31) tháng tám (08) Tây năm nay cũng giao cho nhau [:lễ hỗ giao] thì viết thêm, đính vào làm một với thương ước ấy.
Niên hiệu biên ngày mười lăm (15) tháng mười (10) năm Tự Đức thứ hai mươi bảy (27) ta, tức lịch Tây ngày 23 tháng 11 năm 1874.


16

Mới đến Gia Định, sau một số buổi đàm phán về thương ước, một thương ước về cơ bản đã tạm hoàn thành từ cuối năm Quý dậu (1873, bước sang 1874) tại Hà Nội, Nguyễn Tăng Doãn lại phải cùng Sô Ma Rô ra lại Huế để trực tiếp thỉnh thị ý kiến vua Tự Đức (202). Quả là cuồng vọng của thực dân Pháp là chiếc túi tham không đáy! Dupré cũng thế, Krantz cũng thế! Krantz muốn ghi thêm vào thương ước điều khoản: Mở thêm phố buôn bán và đặt lãnh sự ở Hà Nội (202). Điều khoản ấy sẽ thành một trong hai tục ước của thương ước. Trong thời đoạn lịch sử này, “nước Đại Nam đâu chỉ đối diện với Pháp và Trung Hoa” mà phải đối diện với bao nước thực dân Âu Mỹ khác! Không thể không đồng ý, vì phải nhẫn nhịn trước liên minh xâm lược Âu Mỹ (mặc dù trực diện là Pháp), do đó, nhà vua chuẩn y.
Một điều khoản nữa sẽ thành tục ước, nhưng không phải kí cùng ngày với thương ước, hai mươi tháng bảy, năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (31.08.1874) (203), mà vào bốn mươi lăm ngày sau, mười lăm tháng mười nguyệt lịch (23.11.1874). Đây không phải là điều khoản bổ sung như trên, lại là điều khoản sửa đổi. Thực chất của điều khoản sửa đổi này (tục ước thứ nhì) là Pháp muốn cạnh tranh với Trung Hoa, đồng thời giảm số thuế lẽ ra thuộc về Đại Nam hoàn toàn. Nội dung tục ước thứ nhì là: Thuế thu được từ thuyền buôn nước Trung Hoa theo thương ước đã kí là hoàn toàn thuộc về Đại Nam, nay chữa lại là số tiền thuế ấy cũng phải được sử dụng với cách thu chi như số tiền thuế thu được từ tàu Âu Mỹ và tàu từ thuộc địa Nam Kì của Pháp; và Pháp ép buộc thuyền buôn Đại Nam không có ưu thế gì so với thuyền buôn của Pháp và Âu Mỹ nói chung (203)!
Tuy nhiên, lúc này mới là tháng bảy nguyệt lịch, sứ bộ Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn đâu ngờ về sau Krantz cứ nằng nặc yêu sách vua Tự Đức và triều thần phải chấp nhận thêm tục ước thứ hai ấy, vào tháng mười năm nay!
Sau khi kí thương ước và tục ước thứ nhất xong, vào tháng tám nguyệt lịch, phó sứ Nguyễn Tăng Doãn cùng linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư ra Bắc Kì, bàn việc đánh dẹp giặc biển với Dujardin, đồng thời quy hoạch địa điểm cho Pháp xây đặt Nha Lãnh sự tại Hải Dương và tại ngoài thành Hà Nội (204). Cho đến cuối tháng chín Giáp tuất (1874), Nguyễn Tăng Doãn mới vẽ xong bản đồ Hải Dương cùng bốn phía tỉnh ấy cùng các chú giải, thuyết minh về chỗ ở, chỗ đóng trạm của lãnh sự Pháp, để trình về triều đình (204).
Trong thời gian này, chánh sứ Nguyễn Văn Tường phải thương xuyên ra vào Huế – Sài Gòn, để tiếp tục hoàn tất nốt thương ước, tục ước, kể cả bàn bạc để triển khai “hoà” ước Giáp tuất 1874.
Tháng tám ta, chánh sứ Nguyễn Văn Tường tâu bàn về điều khoản hai mươi (20) của “hoà” ước Giáp tuất 1874 (205). Theo điều khoản ấy, nước ta có quyền đặt một khâm sứ tại thủ đô Paris của nước Pháp, và Pháp cũng có quyền đặt một khâm sứ tại kinh đô Huế nước ta. Chánh sứ Nguyễn Văn Tường xét thấy khó khăn nếu thực thi như thế. Ông viện dẫn: một là, trình độ ngoại ngữ tiếng Pháp của quan ta còn kém, hai là, thông tin liên lạc (điện báo) ta hoàn toàn phụ thuộc vào Pháp. Sử dụng điện báo của Pháp, không khỏi bị tiết lộ bí mật. Nếu mật bàn qua thư tín, thư tín do nhân viên ta qua, về (Paris – Huế) giao nhận, lại quá chậm chạp, tốn kém lộ phí tàu xe… Do đó, ông đề xuất: Chỉ đặt khâm phái kiêm lãnh sự (chánh, phó, hai [02] viên) ở Gia Định. Dupré trước đây cũng bàn như thế, nay tuỳ nhà vua chuẩn y hoặc không. Nếu vua chuẩn, xin giao đình thần chọn người (205). Thật ra, không chỉ chánh sứ Nguyễn Văn Tường, vua Tự Đức và đình thần đều biết, ngoài những khó khăn, hạn chế có thật đó, các tên tướng suý Pháp, cho dù là Dupré hay Krantz, đều muốn tăng cao quyền lực của chúng: nước ta chỉ quan hệ với nước Nam Kì thuộc Pháp mà thôi! Đó là điều Nguyễn Văn Tường từng quyết liệt tố cáo bọn tướng suý Pháp tại Gia Định trong bản tấu tháng ba năm Tự Đức thứ hai mươi mốt (1868). Về những khó khăn, ông viết:
“… Xem các nước Tây phiên đi lại hoà hợp, tiếng nói chữ viết cùng thông, lại có điện báo để thông tin tức. Nếu ta giao thiệp với nước ấy, chỉ dựa vào giấy tờ, một khi phiên dịch sai đi, lại sinh không hợp, thì đặt khâm sứ ở kinh đô không ích gì. Nếu đặt sứ ở Gia Định, là ngang hàng với kinh đô, chưa [được] là thoả đáng, hoặc chỉ đặt lãnh sự thì phẩm trật danh vọng thấp kém, theo tục nước Tây không được dự bàn việc công. [Xin] nghị đặt một viên khâm phái kiêm sung lãnh sự ở Gia Định, lại đặt một viên phó lãnh sự để giúp uỷ làm việc. Thần trước phụng mạng đi sứ, đã từng thương thuyết với tướng [Dupré, Krantz] ấy, ý hợp. Nếu được chuẩn cho, xin giao cho đình thần dự chọn và nghĩ làm công việc”.
“Vua theo lời”
.
Không phải vua Tự Đức và triều thần không thấu hiểu việc ấy như Nguyễn Văn Tường đã thấu hiểu. Đã nhiều lần nhà vua cử phái bộ sang Pháp trực tiếp thương thảo với vua Pháp vì sợ tướng suý Pháp tại Gia Định vượt quyền, lập công vượt chỉ tiêu! Nhưng trong thực tế, ngay cả sau khi “hoà” ước, thương ước, tục ước đã kí kết, thực dân Pháp vẫn muốn làm sức ép!
Cuối tháng tám nguyệt lịch, Giáp tuất (1874), từ Gia Định, chánh sứ Nguyễn Văn Tường gửi tập tâu về triều: Xin chỉ dụ cho dân buôn, nhất là dân buôn người Hoa (nước Thanh), đăng kí làm nhà, mở phố dọc hai bờ sông Cấm ở Ninh Hải thuộc tỉnh Hải Dương; đồng thời chuẩn cho đình thần chọn quan trông coi ở đấy. Đó là yêu cầu của phía Pháp để Pháp có thị trường (chợ búa) mua bán. Ông cho rằng điều này cũng tiện cho ta trong việc khoanh vùng để quản lí. Vua cho là phải (206).
Chánh sứ, thượng thư Bộ Hình Nguyễn Văn Tường lại trở về Huế.
Trên chuyến tàu thuỷ chạy bằng máy hơi nước, rời bến Thủ Ngữ, Sài Gòn, ra cửa Cần Giờ để men theo duyên hải ra kinh đô, ông thấy lòng không thể thanh thản, cho dù công việc đã hoàn tất. Thế là đã bao nhiêu tháng ngày rồi, kể từ khi ông được sắc dụ và chiếu chỉ của vua Tự Đức, rời khỏi các quân thứ đang tiễu phỉ ở biên giới phía bắc Tổ quốc, để sung vào sứ bộ, cùng Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doãn vào Gia Định? Thượng thư Nguyễn Văn Tường nhớ ngày ấy là vào tháng năm Quý dậu (1873). Đến ngày mười sáu tháng sáu nhuận (08.08.1873) năm ngoái ấy, ông mới thực sự xuống tàu thuỷ vào Nam Kì. Từ đó tới lúc đặt bút kí tên, áp ấn toàn quyền đại thần lên “hoà” ước hai mươi tháng giêng Giáp tuất (15.03.1874) là hơn sáu tháng dài! Từ đó tới lúc kí kết thương ước hai mươi tháng bảy Giáp tuất (31.08.1974) là hơn mười hai tháng hai mươi ngày! Và nếu tính từ đó đến lúc kí thêm tục ước thứ nhì với chỉ mỗi một điều khoản sửa đổi vào ngày mười lăm tháng mười Giáp tuất (23.11.1874) là đã mười lăm tháng rưỡi! Từ chuyến tàu thuỷ khởi sự đến chuyến tàu thuỷ tất công, dài đến mười lăm tháng rưỡi! Trong quãng thời gian mười lăm tháng rưỡi ấy, có những sự kiện nổ ra thật khốc liệt, bi hận và bi tráng, mãi mãi không thể phai nhoà trong tâm khảm ông và của bao người cùng thời, mãi mãi còn ghi khắc vào lịch sử muôn đời, không bao giờ mờ nét!
Thượng thư Nguyễn Văn Tường bất giác thở dài, khi nhớ đến cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ – Tĩnh – Bình – Thanh, hiện nay trên cửa miệng mọi người vẫn quen gọi là sự biến “sát tả” của văn thân Nghệ – Tĩnh. Ông thừa hiểu và thấm hiểu ấy là cuộc trừng trị bọn “tả đạo” phản quốc của hai lãnh tụ yêu nước, trung thành với triều Nguyễn, Trần Tấn và Đặng Như Mai, cùng bao sĩ phu, nhân dân trên vùng đất Nam Đàng Ngoài. Bấy giờ, đau lòng theo lệnh dụ của vua, ông cùng binh lính phóng ngựa ra sông Gianh. Cùng với thượng thư Bộ Lễ Lê Bá Thận, ông vẫn lần chần, nào nỡ tiến quân, nào nỡ gọi Trần Tấn và Đặng Như Mai cùng nhân dân Nghệ – Tĩnh yêu nước hưởng ứng hịch khởi nghĩa là “giặc”! Chỉ trách họ xem nhẹ việc “bình Tây”, đặt nặng việc “sát tả”, lại không phân biệt những tên đầu sỏ với bao giáo dân ngây ngô, đến nỗi rơi vào âm mưu kích động thù hận lương – giáo của bọn viễn chinh Pháp và cố đạo Pháp! Và mãi cho đến khi chiếc tàu Antilope của Pháp chạy ra đón ông (và cả Nguyễn Tăng Doãn) với lệnh dụ “sứ bộ phải vào Gia Định ngay” của vua Tự Đức trong tay linh mục hành nhân Nguyễn Hữu Cư, ông mới phải đau lòng chấp nhận “ngọc đá đều cháy” (207), bất đắc dĩ phải điều thêm một số thuyền công, thuyền đánh cá của dân, bước xuống tàu Antilope ấy để nhìn bọn Pháp bắn doạ vào các lán trại, thành luỹ quân khởi nghĩa và cả quân giáo dân tại Mũi Dao, Thần Đầu, Đèo Con trong nội mỗi một ngày, sau đó cùng tàu Antilope lại quay vào Huế! Thật ra, không chỉ riêng ông có tâm trạng ấy, mà các quan tỉnh, quan quân thứ cùng bao người dân, người lính đều băn khoăn, khó xử trong tình huống đó.
Thật ra, chính ông và các quan quân đã yêu cầu bọn Pháp trên tàu Antilope:
- Cánh quân chúng tôi sở dĩ không tiến, bởi còn phân vân khó xử. Lương hay giáo đều là con đỏ của hoàng đế và triều đình. Nếu không công bằng, sẽ phải lãnh nhận một hậu quả khôn lường: nội chiến lương – giáo sẽ không ngừng, thù hận không bao giờ thôi, và khó lòng có một hoà nghị nào giữa người Pháp với triều đình.
- Vậy phải xem lương hay giáo gì trong cuộc nội chiến này đều là “giặc” nổi loạn? – Một tên sĩ quan Pháp hỏi, nhưng y đã tự trả lời –.
- Đúng như vậy! Và chỉ nên bắn doạ, để cả lương lẫn giáo đều tan rã hàng ngũ! – Nguyễn Văn Tường nói thật cứng giọng –. Không còn cách nào khác!
- Đồng ý, thưa quan thượng thư chánh sứ.
- Các ông nên nhớ tôi là thượng thư Bộ Hình. Bộ Hình phải giữ kỉ cương, phép nước, và phải tuyệt đối công bằng. Tôi được hoàng thượng cử ra đây, không phải để cầm gươm, cầm súng, mà để thực thi luật pháp với tinh thần tuyệt đối công bằng!
- Thế thì nhân danh Thần Công lí, xin ra lệnh nổ súng bắn doạ cả lương lẫn giáo, nếu họ không chống cự! – Tên thuyền trưởng tàu Antilope nói –.
Trong tình huống khó xử ấy, thượng thư Nguyễn Văn Tường nghe quan binh truyền nhau câu nói của viên tướng trẻ rất tài năng về thao lược là Tôn Thất Thuyết: “Ngọc đá đều cháy”! Ngọc trong ngần, ngọc sáng ngời, biết bao quý giá cũng đành phải đánh đồng cùng loại với đá tầm thường, thậm chí xấu xa! Quân khởi nghĩa cũng như bọn giáo dân phản quốc của tên cố đạo thực dân Gauthier (Ngô Gia Hậu), quan quân đành lòng xem như đều là “giặc”! Thượng thư Nguyễn Văn Tường chẳng hiểu sao giữa ông và tham tán Tôn Thất Thuyết lại có khẩu hiệu tương ứng với nhau như thế: “Ngọc đá đều cháy”! Nhưng ngẫm cho cùng, ấy là ý tưởng nẩy sinh từ một tâm thế chung trong một tình huống chung. Người ta còn truyền ngôn, không biết có đúng không, rằng Tôn Thất Thuyết trong tình huống đau lòng, khó xử ấy, đã nói như đinh đóng cột: “Đây là cuộc hành quân truy quét với mục tiêu chính trị, nếu cần tàn nhẫn cũng phải đành lòng! Đánh dẹp cả bọn giáo dân “tả đạo” lẫn quân khởi nghĩa văn thân!”. Tất nhiên đó chỉ là lời truyền miệng, thượng thư Nguyễn Văn Tường đến lúc này vẫn chưa có dịp gặp lại Tôn Thất Thuyết để hỏi lại cho rõ thực hư. Nhưng dẫu sao, ấy vẫn là cách xử trí đơn giản mà thiết thực nhất, như thể hai đứa em nhỏ trong nhà bị người lạ ác tâm kích động đến mức ẩu đả nhau u đầu sứt trán, thì người anh cả chỉ còn cách lôi hai đứa ra hai đường sau khi quất cho mỗi đứa vài roi vào mông, để còn thời giờ đối phó với người lạ ác tâm! Ví von thế là xúc phạm, nhưng ví von nào chẳng khập khiễng!
Chính vì khẩu hiệu “ngọc đá đều cháy” , bọn Pháp của tàu Antilope đã bị giáo dân Nam Đàng Ngoài thù hận như họ đã thù hận triều đình nhà Nguyễn. Thậm chí cộng đồng giáo dân ấy đã nhận định rằng, người Pháp nói chung đã bắt tay với vua Tự Đức để phản bội họ, bỏ rơi họ như đã phản bội, bỏ rơi một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ Bắc Kì” và bọn chức sắc ngụy ngợm cỡ tên thợ rèn Hải Dương phản quốc tên Trương. Sự thật lịch sử đó, về sau, khoảng vào đầu hạ tuần tháng ba năm Ất hợi (1875), đã được vua Tự Đức nêu ra trong sắc dụ ban ra cho giáo dân Nghệ – Tĩnh: “Dân lương hay dân giáo đều là dân ta, thì đều là con đỏ của ta. Tự thù hằn nhau, đã là không nên, lại thù hằn với người Pháp, còn ra thế nào? […] Huống chi lại chống cả người Pháp, chống cả quan… […] Dân giáo của ngươi nhiều người bị chết, dân lương há không chết nhiều ư? Bảo rằng của cải dân giáo mất nhiều, dân lương bị mất, so với ngươi há lại chẳng gấp đôi ư? Nếu hết thảy phải đền [cho] ngươi, thì dân lương bị mất, sẽ ai phải đền?… Trong khi chiến tranh, ngọc, đá đều cháy […]. Triều đình xử trí cho hai bên không ngờ ghét nhau…” (207) (208) . Bấy giờ, lúc đấu tranh với thuyền trưởng Antilope, và lúc này, cuối tháng tám nguyệt lịch năm Giáp tuất (1874), tất nhiên sắc dụ ấy chưa viết và chưa ban ra, nhưng tinh thần hành xử ấy, trước tình huống ấy (là trấn áp cuộc nội chiến lương – giáo đó với khẩu hiệu “ngọc đá đều cháy” ), đã thể hiện ra hành động một cách đau lòng.
Bấy giờ, thượng thư Nguyễn Văn Tường còn nghe người ta truyền tai nhau một tuyên cáo của Tôn Thất Thuyết (209):
“Bản sao của tuyên bố mà hoàng thân Thuyết gởi cho sĩ phu, quan lại, thân hào…
Từ mười hai năm nay, bọn dã man đã chiếm đóng nước ta và nuốt đầy họng tài nguyên của ta. Chúng ta ngưng lại đây chăng?
Tôi xin bí mật khuyến cáo các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh, Hải Dương, tất cả các phủ huyện, các sĩ phu và chánh tổng, các hào mục, hãy tuyển mộ những người can đảm và hãy sẵn sàng cùng với vũ khí và thuyền bè.
Cũng đã quyết định là vào tháng năm (05) này, toàn thể sĩ phu ai quê ở tỉnh nào về tỉnh ấy để các quan đầu tỉnh trao cho chức chỉ huy các đội quân, và tới ngày mười (10) tháng sáu (06) (tức 23.7.1874) phải cùng với bộ đội mình xuống tỉnh Hải Dương để đánh phá quân dã man và buộc chúng phải về nước bằng tàu thuyền của chúng.
Tất cả những kẻ nào dám đụng chạm đến đồng đạo của ta thì là kẻ thù của ta và sẽ bị trừng trị.
Ngày 03 tháng 05 năm Tự Đức thứ 27 (tức 16.06.1874)” (209)
.
Người ta còn nói rằng: “Cờ của quân mưu phản [!] hình vuông và màu tím” (209) .
Thượng thư Nguyễn Văn Tường hơi phân vân. Ông thừa biết, vào dịp cuối tháng sáu nguyệt lịch, sau ngày đề trên tuyên cáo một tháng, và ngay sau khi tham tán Tôn Thất Thuyết tiến công với khẩu hiệu “ngọc đá đều cháy” , đánh dẹp cuộc nội chiến lương – giáo Nam Đàng Ngoài xong, vua Tự Đức “liền chuẩn cho tham tán Tôn Thất Thuyết (hiện đóng tại quân thứ Nghệ An) lấy năm trăm (500) phái binh, giao cho đề đốc Nguyễn Văn Hùng, tán lí Nguyễn Đình Thi đi gấp đường đến cứu viện [Hải Dương]” (210) . Bấy giờ, Hải Dương đang bị bọn hải tặc Tàu tên là Khách Công vây bức tỉnh thành rất nguy khốn. Lê Bá Thận cũng được lệnh điều quân đi đường thuỷ để phối hợp. Như vậy, hẳn là Tôn Thất Thuyết lúc ra tuyên cáo trên là nhắm đến không chỉ bọn hải tặc Tàu mà cả tên sĩ quan thực dân Pháp Dujardin, kẻ đang săm soi tìm kiếm mỏ than tại tỉnh ấy!
Thượng thư Nguyễn Văn Tường còn nhớ, mới vài năm trước, lúc còn ở Bắc Ninh, có lần ông đã gặp gỡ, chuyện trò rất tâm đắc và cũng đã xướng hoạ thơ để kín đáo ngụ ý mình với tú tài họ Đặng. Tú tài họ Đặng ấy là người có chí lớn, muốn ra tay trong khi nhìn vận nước ngả nghiêng. Đó là một sĩ phu nung nấu chí “bình Tây sát tả” để cứu nước khỏi ách ngoại xâm Pháp và “tả đạo”, nhưng tiếc thay chưa có điều kiện. Phóng tầm mắt trên biển xanh phía trước mũi tàu, thượng thư Nguyễn Văn Tường bỗng xa xăm và bâng khuâng ngâm thầm trong hồi tưởng:

Kí phỏng Đặng tú tài

Kỉ kinh sương tuyết phí mang bôn
Hồi ức tiên giao cứu trượng hồn
Hoàng Thạch phi vô phương lược tại
Truyền thư khước hận tải không ngôn!

Gửi tú tài họ Đặng

Trải bao sương tuyết, phí in lòng
Thường nhớ, keo sơn, cứu chí ông
Hoàng Thạch đâu chăng, phương lược đó
Gửi thư bèn hận, chuyển lời không! (211)


Tâm trạng ấy của Nguyễn Văn Tường, được thể hiện trong bài thơ ấy của ông, là tâm trạng chung của sĩ phu văn thân, và tú tài họ Đặng đâu phải một người. Trên khắp nước có hàng vạn tú tài họ Đặng phẫn chí, đau lòng trước vận nước như thế.
Bấy giờ, hai thầy trò Trần Tấn, Đặng Như Mai phải chạy trốn nơi này, chốn kia, kể cả chạy ra Bắc Kì để tránh sự truy nã, do “tội” dùng thơ văn công kích “tả đạo”, bởi Gauthier, Croc đang kêu kiện ở Bộ Lễ!
Trong tháng tám nguyệt lịch này, thượng thư Nguyễn Văn Tường đã nghẹn ngào khi hay tin Trần Tấn đã chết bệnh, Đặng Như Mai và cả Trần Quang Cán bị tử hình! Ông thấm thía nỗi đời với biết bao niềm khổ tâm! Ông suy tư về những từ ngữ bổ nghĩa cho bốn chữ “trung quân ái quốc”: khác chính kiến, khác thái độ dấn thân, nhập thế, “sát tả” đơn thuần hay vừa “bình Tây” vừa “sát tả”, nhiệm vụ và mục tiêu nào là chính yếu…
Vẫn lặng nhìn mũi tàu thuỷ rẽ sóng, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại dần dần suy nghĩ đến những điều về khát vọng canh tân Đất nước. Khát vọng ấy vẫn chưa hề được thực hiện, cho dù suốt bao năm trầm tư, tính liệu. Ông nhớ thuở nào và ngay mới ngày hôm qua, ông đã suy nghĩ về “Đông học vi thể, Tây học vi dụng” ở Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly… Đầu tháng tư năm nay, Nguyễn Văn Tường và Nguyễn Tăng Doãn đã tiến dâng lên vua Tự Đức hai mươi (20) tập sách chữ Tây: bốn (04) tập Khung giang bát vật đồ chí, ba (03) tập Lãng sa kì đăng hiệu, mười một (11) tập Nam Kì điều lệ, một (01) tập Thuế lệ, một (01) tập Binh thuyền (211) . Đó là những bộ sách ghi chép khoáng sản, sinh vật, lưu lượng nước, vẽ đồ bản về sông Mê Kông, về quy định đèn, hiệu cho tàu biển (hải đăng, sắc cờ)…, về điều lệ ở Nam Kì do người Pháp quy định, về thuế lệ, binh thuyền… Những cuốn sách ấy, sứ bộ đã tìm mua, có cuốn được tướng suý Pháp biếu tặng, nhưng hỏi mua cũng được tặng tất (212). Nguyễn Văn Tường mong ước sao người Đại Nam ta phải mở rộng tầm nhìn về phía Âu Mỹ để học hỏi, và học hỏi ngay cả cái nhìn, cách phân tích, tổng hợp của người da trắng phương xa về những gì quanh ta, như về sông Mê Kông chẳng hạn, mặc dù kiến văn của họ có thể chưa thật chính xác. “Học ở giặc để đánh giặc” , phương châm ấy chẳng phải là truyền thống nghìn xưa, cha ông ta đã đúc kết, trong điều kiện phải thường xuyên đối phó với Trung Hoa đó sao! Vua Tự Đức bảo: “Đấy thực là có lòng, có ích, giao Viện [Cơ mật] giữ cẩn thận, đợi dịch rõ để tiện xem” (212) .
Trên chuyến tàu tháng tám nguyệt lịch này, ông đã mua được để đem về cung tiến lên vua một khẩu súng lục với năm trăm (500) viên đạn, giá đến một trăm tám mươi (180) quan (213). Và nơi khoang tàu, phía ngoài phòng dành riêng này, là những người Việt, người Hoa kiều ở Gia Định, ông tìm gọi để cùng ông về Huế làm việc. Trong số ấy, có năm (05) người thông dịch tiếng Pháp, bảy (07) người là công nhân kĩ thuật cơ khí. Lần trước, ông đã tâu xin, và đã được vua đồng ý chuẩn y, nên lần này ông đưa họ về (213).
Không thể khác được! “Hoà” ước, thực chất là cưỡng ước bất bình đẳng, đã kí kết. Mặc dù được triều đình đánh giá là thắng lợi, nhưng dẫu sao “hoà” cũng là việc bất đắc dĩ. Tuy nhiên, một khi đã đành chịu phải “hoà”, lại không canh tân Đất nước về khoa học – công nghệ và về mọi mặt, không chấn chỉnh nội lực để tạo thế và lực nhằm đưa Đất nước lên tầm hùng mạnh, nhằm đuổi được bọn Pháp và các cố đạo thực dân, thì cái “hoà” ấy chẳng vô ích, thậm chí là nhục nhã lắm sao?!?
Thượng thư Nguyễn Văn Tường còn định bụng, trong tháng chín sắp tới, ông sẽ viết tập bản sớ đệ trình lên vua Tự Đức để nhắc lại, trước đây, ông đã tâu: “Súng nhỏ đạn chạy ria, phỏng giá bạc hai trăm linh hai (202) đồng. Nếu được chuẩn cho mua, xin do Bộ Binh chọn quân Thần cơ, Cảnh tất, hơi am hiểu phép bắn, đến Gia Định học tập cho thạo kĩ, mới có thể mua để dùng” (214).
Tất nhiên, mấy đời bọn giặc Pháp lại truyền hết nghề cho người Đại Nam mình, một khi chúng đang xâm lược ta bằng vũ khí, và ta thất bại trước chúng cũng vì vũ khí. Và không chỉ vũ khí, mà còn là kĩ thuật luyện quân và hành quân, tác chiến. Vũ khí mới đã sản sinh ra kĩ thuật quân sự mới! Tất cả ta đều phải học. Nhưng phải cố gắng học một biết mười. “Thắng Tàu, bởi học vượt lời Tàu xưa” (215) . Nay học Tây cũng phải vậy. Vả lại, “Tây dương” là từ chỉ chung Âu Mỹ, chứ đâu riêng chỉ Pháp!
Khi tàu thuỷ vừa đến Đà Nẵng, cập bến, để theo đường bộ ra kinh đô Huế, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại nghe tin Bắc Kì đang phải gặp nạn bão! “Nhà cửa đổ nát, thuyền bè chìm mất, nhân dân có nhiều người bị chết” (216) . Ông đứng sững trong vài phút với nỗi thương cảm đến nghẹn ngào. Bao nhiêu tai trời ách nước, chẳng hiểu sao lại trút xuống Bắc Kì quá nỗi nặng nề. Theo thuyết “thiên nhân tương cảm tương ứng” , phải chăng do lòng người li tan, chia rẽ, đánh mất hai chữ “nhân hoà”? Dẫu sao, thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn cảm thấy quá đau xót, cứ thương nhớ ngậm ngùi về xứ Bắc Kì ngoài ấy.

Hết tệp 6 truyện kí thứ 7

Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 7 vào lúc 11 giờ kém 05,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ, HB.2).


TRẦN XUÂN AN

(195) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 40 – 41, 53, 57, 81, 107, 109.

(196) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 78 – 80.

(197) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 85.

(198) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 83 – 85.

(199) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 105.

(200) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 107.

(201) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 87 – 104.

(202) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 82.

(203) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 103 – 104.

(204) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 105 – 106, 114, 116; NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 487 – 488.

(205) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 106 – 107.

(206) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 110.

(207) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 186 – 189.

(208) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 186 – 189.

(209) NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 234 – 287.

(210) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 78 – 80. Xin xem lại theo chú thích (196).

(211) Trần Xuân An (biên soạn [chú thích, dịch thơ…]), Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (KVPCĐT. NVT. T. VNVCNTH. & TT.), Trần Viết Ngạc sưu tầm, giới thiệu, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển dịch thơ, giới thiệu, Nguyễn Tôn Nhan dịch nghĩa, TS. Ngô Thời Đôn hiệu đính, TS. Võ Xuân Đàn, GS. Đoàn Quang Hưng khảo luận sử học, bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản), bài thơ số 44, bản dịch nghĩa của Nguyễn Tôn Nhan và bản dịch thơ của Trần Xuân An, tr. 287 – 288.

(212) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 42.

(213) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 111.

(214) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 116.

(215) Thơ Trần Xuân An.

(216) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 111.

Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2).

TRẦN XUÂN AN


HẾT TỆP 6
(PHÂN ĐOẠN 6 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”

Xin xem tiếp TỆP 7
(phân đoạn 6 truyện kí thứ 7
thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II A 5)

Tệp 5 - Tập II
(PHÂN ĐOẠN 5, TRUYỆN KÍ THỨ 7)

Sẽ đăng trên Tạp chí điện tử Giao Điểm
số tháng 12-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm

TRẦN XUÂN AN

CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874


Truyện kí thứ bảy
(phân đoạn 5)

11

Quả thực, đến lúc này, sau nhiều chuyến đi tàu thuỷ dọc ven biển Đất nước, phó sứ Nguyễn Văn Tường mới nhận ra, từ Đà Nẵng trở vào, thiên nhiên có một khí hậu và thời tiết khác hẳn. Tất nhiên là nhờ thuốc thang ngự dụng và thầy thuốc ngự y, nhưng cũng còn nhờ nắng ấm, ông sớm hồi phục sức khoẻ. Ông cảm nhận điều đó bằng tất cả xúc giác của mình. Có điều, phó sứ Nguyễn Văn Tường vẫn tự thấy, chắc hẳn khi sự biến đã qua, cách giải quyết dẫu sao cuối cùng cũng do nhà vua, triều đình bàn thảo, quyết định. Và tựu trung, như thế, lòng lo nghĩ cũng bão hoà, nên giấc ngủ về đêm có phần đẫy giấc hơn, bớt trăn trở, khắc khoải, thao thức đi. Do đó, ông sớm thuyên giảm bệnh chăng.
Thật sự khi tàu mới cập bến Thủ Ngữ tại Sài Gòn cho đến mấy hôm sau, ông vẫn chưa hay ở Nghệ – Tĩnh vừa bùng nổ cuộc nội chiến “Bình Tây sát tả” !
Sau một bữa ăn tối, các thành viên chính của sứ bộ Đại Nam ngồi quanh bàn nước, vừa chuyện trò vừa bàn thảo thêm một vài khía cạnh của “hoà” ước và cả thương ước.
Chánh sứ Lê Tuấn vẫn còn hơi mệt mỏi, mặc dù chứng viêm họng mạn tính đã khỏi cơn tái phát. Ông vẫn luôn nói năng chậm rãi, từ tốn. Giọng Hà Tĩnh của một người nhiều năm ra Bắc vào Nam vẫn còn nguyên chất:
- Quan phó sứ rời khỏi Gia Định từ hôm mười bảy tháng mười năm ngoái, đến hôm rằm tháng giêng này, rứa là cũng gần tròn ba tháng trời! Nói cho chính xác là kém hai ngày, vị chi tròn một quý! Thật thấm thoát mà không biết mấy biến động! – Chánh sứ nén tiếng thở dài –.
- Bẩm, sự biến Bắc Kì và những cách giải quyết, cũng như quyết định của đức vua, triều thần, ở đây quan chánh sứ, quan tham biện đã nắm rõ và cụ thể. – Phó sứ Nguyễn Văn Tường nói –. Vấn đề còn lại là “hoà” ước, kế tiếp là thương ước. Nhưng tôi thấy hầu như cũng đã thành dạng bản cả rồi!
- Thật ra, thành dạng bản từ hai tháng trước. Ngày hai mươi sáu tháng mười âm (15.12.1873), tướng Dupré đã gửi cho tôi xem xét bản gốc của văn kiện “hoà” ước (169)! Ngày hai mươi ba tháng chạp (09.02.1874) mới đây, ông Prioux đã cùng linh mục Nguyễn Hữu Cư bàn định quy cách “hoà” ước (169). Rồi từ hôm ba mươi tháng chạp (16.02.1874) đến nay, cứ bàn cãi mãi một số điều khoản… Bàn cãi lần cuối cùng để thông qua (169)… Thế đấy, cho đến mấy hôm gần đây nhất, “hoà” ước đã thành dạng bản rồi, nhưng các cố đạo vẫn khiếu nại. Họ muốn tiếp tục bàn thảo thêm về điều khoản liên quan đến họ với việc truyền đạo và về dân giáo (170). Mấy hôm nay, quan phó sứ cũng đã trực tiếp thảo luận đó. Và dẫu sao, thì hai bên cũng đã thông qua… Đôi khi, tôi vẫn lấy làm tiếc về vụ biến Bắc Kì. Nếu chúng ta không cứng rắn, mà mềm dẻo một tí, thì quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương không phải tử tiết, và máu không đổ ở ngoài ấy… – Chánh sứ Lê Tuấn chợt rắn giọng –. Nhưng đó là ý nghĩ lúc dao động…
- Đâu phải cả ba chúng ta đây không ai bị dao động! Thú thật, lúc mới nghe báo tin Hà Nội thất thủ, quan Vũ hiển bị thương, bị bắt, phò mã Nguyễn Lâm hi sinh tại trận, Phan Đình Bình, Vũ Đường, Đặng Siêu, Nguyễn Đăng Nghiễm, Phan Tôn, Phan Liêm bị chúng bắt chở vô đây, định đày sang Pháp, tôi cũng hơi dao động thật! Bọn Pháp muốn làm sức ép và chúng đã làm thật, thậm chí chúng còn muốn chiếm đóng bằng quân đội viễn chinh của chúng! Có điều ta không để cho chúng làm được điều ấy. Françis Garnier đã phải đền mạng. Chúng chiến, ta cũng phải chiến. Ta phải chiến đấu mới hoà được! Tình thế chung và tình huống cụ thể bắt buộc phải như vậy. – Phó sứ Nguyễn Văn Tường cố giấu xúc động –. Lưu Vĩnh Phúc đã thực hiện vai trò “hiệp sĩ phi chính phủ” rất tốt. Đó là do tài điều động và sự yểm trợ của thống đốc Hoàng Tá Viêm và tham tán Tôn Thất Thuyết. Tôi đã có dâng sớ xin nhà vua tưởng thưởng, trả chức, phong tước cho ba vị ấy (171).
- Ồ, cả Lưu Vĩnh Phúc? Tôi xin tạt ngang khía cạnh này một chút. Nếu phong chức cho Lưu Vĩnh Phúc, thì ông ta trở thành quan của triều đình Đại Nam thật rồi, làm sao còn đóng vai “hiệp sĩ phi chính phủ” hay “hiệp khách giang hồ hành đạo trừ tà” được?
- Cái khó là ở đấy, nhưng cũng đã được đình nghị xong, tuy chưa công bố. Đơn giản là thế này… Lưu Vĩnh Phúc là người Hoa, nguyên là giặc Cờ đen, mới được Nguyễn Huy Kỷ và Trần Doãn Đạt quy phục, ai cũng biết. Nhưng ta cứ nói với Pháp: “Ông ta cứ chiến đấu chống phỉ và Pháp như một hiệp sĩ ngoài vòng cương toả của triều đình ta. Dẫu triều đình ta có phong chức cho Lưu Vĩnh Phúc để ràng buộc thì ông ta vẫn cứ tính nào tật ấy. Đó là một “hảo hớn” đồng thời là quan của triều đình Đại Nam! Triều đình không thể ứng xử với ông ta như một viên quan thuần tuý Đại Nam…”. Người Pháp không thể trách ta cũng như không thể làm gì Lưu Vĩnh Phúc được.
Phó sứ và tham biện cùng cười khẽ, cảm thấy thật thú vị. Trong khi đó, chánh sứ Lê Tuấn chỉ muốn câu chuyện quay lại vấn đề đang bàn thảo.
Không khí bỗng im ắng một lúc khá dài.
Rót trà ra chén, tay của chánh sứ Lê Tuấn hơi run, một phần vì tuổi già, lại bệnh yếu, một phần khác là do tâm trạng của ông lúc này. Dẫu mọi việc hầu như đã được ước định, chỉ còn chép lại “hoà” ước cho thật sạch đẹp theo quy cách, và đặt bút xuống kí, áp ấn lên mặt giấy nữa thôi, nhưng nào ai trong sứ bộ cảm thấy không buồn!
- So với yêu cầu đặt ra ban đầu, như thế là chúng ta thất bại. So với “hoà” ước Nhâm tuất 1862, chỉ hơn được vài điểm nhưng đã bị kèm theo thương ước thật bất bình đẳng… – Phó sứ Nguyễn Văn Tường hơi trầm tư –. Phải tự nghiêm khắc thấy như vậy. Có điều, tôi vẫn rất tâm đắc với điều khoản Đại Nam ta được mở trường dạy học, lập văn miếu cho sĩ tử tại Nam Kì này. Ta mất đất nhưng quyết không để mất dân tâm! Quan chánh sứ, quan tham biện hẳn cũng đồng ý như tôi, rằng trong thế yếu của nước mình, cũng phải xem việc mở cửa biển, khai thông thương mại với các nước là điều kiện để đua tranh với bốn bể năm châu. Tất nhiên, mở cửa biển, khai thương trong thế nước hùng mạnh, không chịu các điều khoản hiệp ước bất bình đẳng, dân ta đã quen đua tranh với thiên hạ bốn phương, thì yên tâm hơn, ít nguy cơ hơn… Nhưng thế nước suy yếu, biết làm sao được! Trước “hoà” ước này, lại đã có “hoà” ước Nhâm tuất 1862, thật quá bất lợi! Sứ bộ ta vào trận chiến ngoại giao này vào lúc đã quá muộn, thế nước đã bị trói buộc, lại quá suy nhược! Biết làm thế nào được…
- Nhà đã cháy gần hết, chữa được chút nào hay chút ấy. Như vậy cũng là khá rồi… So bì thế nào được với thời đại thắng quân Nam Hán, đánh Tống bình Chiêm, ba lần đánh bại quân Nguyên – Mông vô địch thế giới, thời Nguyễn Ức Trai viết “Bình Ngô đại cáo” ! Tôi đồng ý với quan chánh sứ, quan phó sứ, rằng ta có dao động, và ta cũng chưa đạt mục tiêu ban đầu đề ra (thật ra các mục tiêu ấy quá cao, so với khả năng hiện thực!). – Quan tham biện Nguyễn Tăng Doãn nói –. Biết làm sao được!
- Còn ý kiến của tôi: Phải cố cầm cự thêm một thời gian dài nữa, để chấn chỉnh mọi mặt Đất nước, để học giặc mà đánh giặc… – Phó sứ Nguyễn Văn Tường nói, chợt nhìn quanh, cảnh giác, rồi lại yên tâm –.
- Yên tâm! Đây là Dinh Sứ thần do bọn Pháp xây dựng, nhưng chúng chẳng nghe lén được đâu. Những viên lính tuỳ tùng của sứ bộ ta chỉ lo mỗi một việc cảnh giác bọn Pháp nghe lén, chẳng lẽ không làm tốt sao! – Chánh sứ Lê Tuấn mỉm cười cuối câu nói –.
Chuyện trò thêm một lúc, ba thành viên chính của sứ bộ đi ngủ. Không một ai trong họ không thao thức, đau xót, mặc dù vua Tự Đức, đình thần và cả hoàng tộc đều xem “hoà” ước Nhâm tuất 1874 họ sắp kí kết là một thắng lợi lớn của sứ bộ (172) … Họ hiểu văn kiện “hoà” ước chỉ vài chục trang giấy, nhưng liên quan đến vận mệnh Tổ quốc… Họ phải chịu trách nhiệm trước triều Nguyễn và nhân dân Đại Nam, cũng như với lịch sử thiên thu…
Vào lúc bốn giờ chiều ngày hai mươi bảy tháng giêng năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (15.03.1874) (173), chánh sứ Lê Tuấn và phó sứ Nguyễn Văn Tường long trọng thay mặt triều đình Vương quốc Đại Nam đóng khuôn dấu toàn quyền đại thần vào “hoà” ước! Song song, bên cạnh, là chữ kí, khuôn dấu của thiếu tướng đề đốc, thống đốc Nam Kì Dupré, người đại diện toàn quyền của Nước Cộng hoà Pháp (173)!
Hai mươi phát đại bác nghi lễ nổ rung trời Gia Định! Đối với sứ bộ và nhân dân, đấy là giây phút sống lại nỗi phẫn uất Nhâm tuất 1862 và Đinh mão 1867!
Chưa trọn hai ngày đêm, vào lúc ba giờ nửa khuya về sáng, trong canh khắc bắt đầu ngày hai mươi chín tháng giêng nguyệt lịch (17.03.1874) (174), chánh sứ Lê Tuấn trút hắt hơi thở tắc nghẹn cuối cùng trước ba vị quan ngự y, những ngự y vốn được nhà vua và triều đình phái đi theo sứ bộ mấy tháng nay. Từ hôm qua, sau buổi tiệc tiễn chân tướng Dupré về Pháp, chánh sứ Lê Tuấn lại ngã bệnh. Có lẽ vì rượu mạnh trong bữa tiệc ngoại giao, nên cổ họng quan chánh sứ lại đột ngột viêm tấy và lồng ngực đầy đờm rãi đặc quánh, khiến ông chết như một người ngạt thở! Chánh sứ Lê Tuấn mất lúc ông mới suýt soát tuổi sáu mươi (174)!
Bốn giờ rưỡi sáng, tại căn nhà ở gần Cầu Ông Lãnh (174), nơi vừa kịp thuê, thi hài quan chánh sứ được khâm liệm, trong nỗi buồn đau, tưởng tiếc của phó sứ Nguyễn Văn Tường, tham biện Nguyễn Tăng Doãn cùng đoàn tuỳ tùng. Lúc ấy, có sự hiện diện của nhiều quan chức Pháp, trong đó có đề đốc kiêm thống đốc Krantz, kẻ mới vừa sang để thay thế Dupré.
Krantz đã cho chiếc tàu thuỷ mang tên Montcalm, đang đậu ở cảng Vũng Chân, chở thi hài chánh sứ Lê Tuấn và toàn thể sứ bộ Đại Nam cùng đoàn tuỳ tùng về kinh đô Huế (174).
Đến Huế, lễ truy điệu trọng thể được tổ chức trước khi tiếp tục chuyển linh cữu chánh sứ Lê Tuấn về với lòng Đất Mẹ quê hương Hà Tĩnh.
Trong hương khói trầm nhang tưởng niệm, phó sứ, tham biện sứ bộ và đoàn tuỳ tùng nghẹn ngào thương tiếc, nhất là khi một viên chức hữu tư Bộ Lễ, phụng chỉ ban tế, đọc điếu văn của chính hoàng đế Tự Đức (172):
“… Việc đánh dẹp phía đông chưa xong, việc đi sứ sang tây lại gấp đến. Ai cũng nói rằng khó kiếm được người, chỉ có dùng người ấy là hơn cả. Ngươi về yết kiến vua chưa được mấy ngày, bấy giờ ngươi đã mang bệnh, ăn uống đã rất kém. Nhưng chỉ nghĩ đến công việc, không bỏ hỏng được, và cái khí tiết không kể đến thân của ngươi, nên trẫm cũng để cho ngươi đi mà luôn ngóng ngươi trở về! Hỡi ơi thương thay! Sao nay chẳng thấy ngươi về! Trẫm với ngươi không phải là thân thích, cố cựu, nhưng riêng khen bụng ngươi giỏi vượt mọi người, nhanh hơn khanh tướng, ngươi đã cương quyết xin đi để báo đáp ơn tri ngộ. Trẫm đương mong tìm được người, cũng trộm lấy làm mừng rằng đã biết được người. Nay bản thảo hoà ước mới xong thì tin báo tang vụt tới, đáng mừng mà hoá ra buồn. Hỡi ơi thương thay! […]
Khi lâm hành, ngươi đã dự lo tất sẽ xảy ra biến cố… […] … Biết […] thương uỷ phó sứ [Nguyễn Văn Tường] kíp về điều đình, rồi ngươi tiến tới (suý phủ Pháp) giảng giải, cuối cùng đã có thể chuyển nguy làm yên.
Ngày nay chiến tranh trở lại giảng hoà, thì công của phó sứ [Nguyễn Văn Tường] tức là công của ngươi vậy. Trẫm đương mong ngươi về mà cùng nhận sự luyến ái hậu tình của trẫm. Ngờ đâu… […] khiến người ta biết bao thương tiếc. Hỡi ơi thương thay!
Vả ngươi chưa tới lục tuần, mắc cái bệnh hầu tì không quan trọng. Trẫm đã không ngại xa xôi nghìn dặm, ban thầy cấp thuốc liên tiếp dọc đường, tưởng rằng cái bệnh vô căn nguyên ấy không thuốc rồi cũng khỏi. Đâu có ngờ ngươi vội từ trần. Hỡi ơi thương thay! […]
[…] Tài đức công nghiệp của ngươi đã có ngòi bút của sử thần. Đây trẫm chỉ ghi lại cái tình tri giao đối với ngươi, gọi là có mấy lời, rót mấy chén rượu, cho trọn cái nghĩa thuỷ chung vua tôi mà thôi. Hỡi ơi thương thay!” (172)
.

11

CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ” GIÁP TUẤT 1874 (175)

“Hoà ước mới định (tất cả hai mươi hai [22] khoản) đã làm xong.
Lời ước rằng: Nay vua nước Đại Nam và vua nước Đại Pháp cần muốn kết lời thề hoà hiếu, hoà thuận bền chặt để cho hai nước được giao thiệp với nhau lâu dài. Nhân đó cùng bàn, [làm] nên định ước mới kết giao, để thay thế điều ước đã định tại ngày mùng chín (09) tháng năm (05) năm Nhâm tuất, Tự Đức thứ mười lăm (15), tức là ngày 05 tháng 06 năm 1862. Cho nên đặc cách phái toàn quyền đại thần để tiện làm việc.
Vua nước Đại Nam đặc cách phái Hình bộ thượng thư, khâm sung định ước chánh sứ toàn quyền đại thần là Lê Tuấn; Lễ bộ tả tham tri, khâm sung định ước phó sứ toàn quyền đại thần là Nguyễn Văn Tường.
Vua nước Đại Pháp đặc cách phái tổng thống Nam Kì, thuỷ lục dân quân đại nguyên soái, ngự tứ đệ nhất đẳng thưởng công bội tinh, tuyên giáo bội tinh, khâm sung định ước toàn quyền đại thần là Du Bi Lê [Dupré].
Hai bên đã chiếu sắc khâm sai toàn quyền, công đồng so sánh, xét duyệt, đều là thoả đáng, sẽ đem điều ước lập ra kê khai như sau:
Khoản thứ I: Từ nay về sau, nước Đại Nam cùng với nước Đại Pháp đời đời kết giao hoà hiếu, tình bạn thực thà.
Khoản thứ II: Vua nước Đại Pháp biết rõ vua nước Đại Nam là giữ quyền tự chủ, không phải theo phục nước nào, nên vua nước Đại Pháp tự hứa giúp đỡ, lại ước định: Như hoặc nước Đại Nam nếu có giặc và nước ngoài đến xâm nhiễu, mà vua nước Đại Nam có [thông] tư xin giúp đỡ, cốt cho dẹp yên, cũng muốn đánh hết giặc biển quấy nhiễu, cướp bóc ở phận biển nước Đại Nam, các phí tổn đều do nước Đại Pháp tự chịu và không đòi trả lại.
Khoản thứ III: Vua nước Đại Nam nên đền đáp tình hứa giúp ấy, ước định: Nếu có giao thông với các nước ngoài, thì phải góp ý với nước Đại Pháp. Nếu từ trước có giao thiệp đi lại thông sứ với nước ngoài nào, nay nên theo như cũ, không nên đổi khác. Duy nước Đại Nam muốn giao thông buôn bán, bàn định thương ước với nước nào, đều được tuỳ tiện; nhưng thương ước ấy không nên trái với thương ước của nước Đại Nam cùng nước Đại Pháp hiện nay đã định. Lại khi nào cùng với nước nào định thương ước ấy, thì báo trước cho triều đình nước Đại Pháp biết.
Khoản thứ IV: Vua nước Đại Pháp ước định cho thêm vua nước Đại Nam các thứ đồ dùng mà không đòi tiền, kê ra sau này:
- Năm (05) chiếc tàu chiến (tàu ấy chiều dài, chiều ngang bao nhiêu, lớn hay nhỏ, sẽ có giấy biên để làm bằng). Sức máy năm (05) tàu ấy thông tính ngang với sức ngựa, ước [chừng] năm trăm (500) [mã lực]. Máy móc, gỗ ván và nồi dẫn nước ở năm chiếc tàu ấy đều là bền chặt và tốt hết cả. Lại các hạng súng ống, vâït liệu kèm theo tàu đầy đủ, y như lệ đồ dùng ở tàu chiến của nước Đại Pháp.
- Về súng lớn: một trăm (100) cỗ. Lòng súng ấy đường kính từ 7 phân đến 1 tấc 6 phân (đều dùng thuốc [súng] của nước Đại Pháp). Mỗi cỗ, thuốc đạn đều hai trăm (200) viên.
- Về súng điểu thương mở bụng: một ngàn cây (1.000). Thuốc đạn năm mươi vạn (500.000) viên.
Các đồ vật trên này, đợi sau khi hoà ước cùng giao cho nhau, hạn trong một năm, đưa đến Gia Định giao cho nước Đại Nam nhận dùng.
Lại như nước Đại Nam có muốn: mượn người nước Đại Pháp dạy lính thuỷ, lính bộ; và các thợ thuyền làm giúp máy móc; cùng người am hiểu thuế lệ, thu giúp thuế buôn bán ở các cửa biển; và người am hiểu tiếng, chữ, kĩ nghệ làm trường để dạy; mua thêm tàu chiến, thuốc đạn, đủ để dùng về việc quân; [nói chung tất cả] các khoản ấy thì nước Đại Pháp đều phải làm giúp cho. Còn như tiền công mượn các người ấy và giá tiền mua thêm tàu và súng, tới khi ấy hai nước cùng định, cần phải thoả đáng với nhau.
Khoản thứ V: Vua nước Đại Nam biết rõ địa hạt nước Đại Pháp hiện được cai trị, tức là sáu (06) tỉnh: Gia Định, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (phía đông giáp biển và địa đầu phía tây tỉnh Bình Thuận nước Đại Nam, phía tây phía nam đều giáp biển, phía bắc giáp nước Cao Miên và địa đầu phía nam tỉnh Bình Thuận nước Đại Nam) đều về quản hạt của nước Đại Pháp, riêng giữ quyền tự hữu.
Duy nước Đại Nam có phần mộ quê ngoại về họ Phạm, họ Hồ, cộng mười bốn (14) sở. Trong đó, họ Phạm mười một (11) sở, ở thôn Tân Niên đông và thôn Tân Quan đông, thuộc tỉnh Gia Định; họ Hồ ba (03) sở, ở thôn Linh Chiểu tây và xã Tân Mai, thuộc tỉnh Biên Hoà. Các mộ ấy, nghiêm cấm các hạng người đều không được xâm phạm. Nước Đại Pháp lại xin trích hai trăm (200) mẫu ruộng đất gần mộ, trong số đó giao cho họ Phạm một trăm (100) mẫu, họ Hồ một trăm (100) mẫu, để làm nhu phí vâng giữ các phần mộ. Còn như ruộng đất ấy và nhân đinh họ Phạm, họ Hồ, nước Đại Pháp đều miễn trừ đi lính, đi phu và các thuế đinh, thuế điền.
Khoản thứ VI: Chiểu theo điều ước cũ năm Nhâm tuất (1862), nước Đại Nam còn thiếu tiền bồi thường cho nước Đại Pháp một trăm vạn (1.000.000) đồng bạc (mỗi đồng bạc nặng 07 đồng cân 02 phân). Nay được bỏ hết, không đòi hỏi nữa.
Khoản thứ VII: Nguyên điều ước cũ năm Nhâm tuất (1862), nước Đại Nam còn thiếu tiền bồi thường cho nước Y Pha Nho (Tây Ban Nha) một trăm vạn (1.000.000) đồng bạc (mỗi đồng bạc nặng 07 đồng cân 02 phân). Vua nước Đại Nam ước định trả cho triều đình nước Đại Pháp để chuyển giao cho nước Y Pha Nho, [nhưng] phải đợi [từ] ngày nào nước Đại Nam chiểu thu thuế quan các cửa biển đã mở cho các nước Tây dương và Tân thế giới thông thương. Mỗi năm thu được bao nhiêu, trừ số chi phí trong một năm ra, hiện còn bao nhiêu, [thì] chia làm hai thành [:02 phần], trích lấy một thành, bồi [đắp] vào số bạc thiếu ấy. Mỗi năm bồi [thường] bao nhiêu, giao cho nguyên soái nước Đại Pháp ở tỉnh Gia Định biên nhận, chuyển giao cho nước Y Pha Nho, lấy giấy biên nhận của nước ấy, giao cho nước Đại Nam làm bằng. Nhưng không kể là mấy năm, năm nào bồi [thường] xong thì thôi.
Khoản thứ VIII: Người nước Đại Nam có giúp nước Đại Pháp việc gì hoặc [người] nước Đại Pháp có giúp nước Đại Nam việc gì, tự phản bội nước mình mà có can phạm pháp luật của nước, phải tịch biên gia sản, thì từ khi đã định hoà ước trở về trước, vua nước Đại Pháp và vua nước Đại Nam đều khoan tha, cho trả lại gia sản. Duy gia sản ấy đã từng bán đi, không còn ở nhà nước nữa, không phải trả về.
Khoản thứ IX: Vua nước Đại Nam biết rõ Đạo Thiên chúa nguyên để khuyên người làm điều lành. Nay đem các giấy tờ cấm Đạo Thiên chúa từ trước bỏ hết đi. Lại cho phép người nước Đại Nam có muốn theo đạo và giữ đạo, đều được thong dong tự tiện. Vì thế, người theo giáo trong nước đều được tuỳ tiện các việc hội nhau đọc kinh, lễ bái, không kể số người, người ngoài [đạo] không được vin cớ bức bách dân theo Đạo Thiên chúa làm việc gì trái phép đạo và không bắt giáo dân khai riêng sổ sách. Từ nay về sau, giáo dân ấy đều được đi thi, ra làm quan, mà chớ bắt phải trái phép đạo.
Vua nước Đại Nam ước định:
Đem sổ riêng từ trước bỏ đi tất cả, còn sổ sách binh đao, thuế khoá, phàm các việc đều cùng giống như nhân dân. Và cấm từ nay về nói năng, giấy tờ, không nên lại dùng chữ nào, câu nào có làm nhục đến Đạo Thiên chúa, cùng là trong mười điều [mười điều răn? Thập điều diễn nghĩa?], nếu có những chữ, những câu như thế, cũng đều chữa lại.
Giám mục, linh mục nước Đại Pháp đến ở nước Đại Nam để giảng đạo, người nào hễ trình có giấy thông hành của nguyên soái nước Đại Pháp ở Gia Định cấp cho, có đủ Bộ Lễ hoặc quan tỉnh của nước Đại Nam đóng ấn, phê chữ “dĩ trình”, mới được vào trong nước Đại Nam, và tuỳ tiện đi lại ở trong địa phận thuộc về giám mục ấy, tự do giảng đạo, chớ nên phân biệt, bắt phải quản thúc; còn có ra đi, không trở lại, [thì] sức [:truyền lệnh] cho các xã thôn sở tại khai báo như trước. Linh mục nước Đại Nam giảng kinh truyền giáo, cũng như linh mục nước Đại Pháp.
Nếu linh mục nước Đại Nam có phạm tội, phải phạt đánh roi, đánh trượng, thì nên chiểu lệ cho lấy tiền chuộc thay, không nên thực hành đánh roi, đánh trượng. Giám mục, linh mục nước Đại Pháp và linh mục nước Đại Nam đều được thuê mua ruộng đất làm đạo đường, đạo quán, nhà dục anh, nhà dưỡng bệnh và các nhà thuộc về truyền giáo.
Và giáo dân ấy trước can phải giam, đi an trí, gia sản đã bị tịch biên, nay nếu hãy còn ở nhà nước, thì nên giao trả cho giáo dân ấy nhận lấy; nếu đã bán mất rồi, không còn ở nhà nước nữa thì thôi.
Các khoản trên đây thì giám mục, linh mục nước Y Pha Nho cũng đều nhờ ơn như thế cả.
Sau khi hoà ước này cùng giao cho nhau [:sau khi vua, quốc trưởng phê chuẩn, sẽ hỗ giao], nên ban sắc dụ xuống bá cáo cả nước cho dân xã đều biết vua nước Đại Nam đã rộng ban ơn huệ, chuẩn cho giáo dân được tự do theo đạo như thế.
Khoản thứ X: Nước Đại Nam đều có làm trường học ở thành Gia Định để tiện dạy học trò, thì có quan Bộ Lại của nước Đại Pháp ở Gia Định trông nom giúp cho. Trong trường học ấy không được giảng dạy việc gì có trái phong hoá và trái quyền của nước Đại Pháp. Như [ng; chẳng hạn] có làm đền miếu tế tự [hoặc] việc gì [tương tự] đều cho tuỳ tiện. Nếu giáo sư ấy có trái khoản ấy thì phải giao trả [ông ta cho] nước Đại Nam, hoặc có làm việc gì nặng hơn việc ấy, thì trường ấy cũng phải thôi không đặt nữa.
Khoản thứ XI: Cửa biển Thị Nại tỉnh Bình Định cùng cửa biển Ninh Hải tỉnh Hải Dương của nước Đại Nam, và [đường thuỷ] từ cửa biển ấy ngược lên một dải sông Nhị Hà suốt đến địa phận tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh, và phố Hà Nội, thì triều đình nước Đại Nam nên mở cho người Tây dương và người các nước Tân thế giới thông thương buôn bán. Sẽ định thương ước kèm với hoà ước này. Về điều khoản thông thương mới bàn định cũng chiểu điều ước này tuân theo một thể. Trong đó, cùng cửa biển Ninh Hải, cùng phố Hà Nội, và theo sông Nhị Hà suốt đến địa phận tỉnh Vân Nam nước Đại Thanh, thì nên đợi khi điều ước này cùng giao cho nhau [:hỗ giao], nên định ngày nào khai trương làm tiện, tới khi ấy do hai nước bàn định. Duy cửa biển Thị Nại tỉnh Bình Định, phải đợi sau khi cùng giao cho nhau [:hỗ giao hoà ước] một năm thì đem khai thương. Còn như các cửa biển, các sông, đợi sau này buôn bán, nếu có phồn thịnh, ích lợi, thì sẽ [để] cho nước Đại Nam nghĩ định làm việc.
Khoản thứ XII: Các người Đại Pháp và thuộc địa cùng các nước Tây dương và Tân thế giới, người nào hễ tuân theo luật lệ nước Đại Nam, phải được ước định khai thương ở các cửa biển, mua đất làm nhà, tuỳ ý buôn bán và đặt làm máy móc kĩ nghệ ở nước Đại Nam, nhưng phải nhờ quan nước Đại Nam chỉ định xứ sở, không được lẫn lộn. Trong đó chỗ đất ở, hoặc đất công hoặc đất tư, chiểu giá thuận mua, và cả nhà ở, thuế lệ phải nộp là bao nhiêu, thì chiểu lệ định đưa nộp cho quan nước Đại Nam. Các người đi buôn cho phép được thông hành [:đi lại thông suốt] buôn bán từ cửa biển Ninh Hải suốt lên sông Nhị Hà cho đến tỉnh Vân Nam. Về thuế lệ thuyền và thuế hàng hoá là bao nhiêu, cũng chiểu lệ đưa nộp cho quan nước Đại Nam. Còn như từ cửa biển Ninh Hải theo sông Nhị Hà đến Hà Nội, lại từ Hà Nội suốt đến tỉnh Vân Nam, các chỗ cạn ở ven bờ sông, người Tây đều không được buôn bán. Người các nước trên đây đều được tuỳ tiện thuê mượn người nước Nam làm giúp các hạng tài phó, thông ngôn, thư kí, thợ thuyền, phu chèo thuyền, làm công việc trong nhà.
Khoản thứ XIII: Nước Đại Pháp được tiện đặt lãnh sự hoặc một viên chuyên làm việc ở các cửa biển đã khai thương ở nước Đại Nam, mỗi sở mang theo quân cốt đủ để sai phái, nhưng không được quá số một trăm tên, để tiện tự vệ và tuần phòng canh giữ, cho khỏi người các nước sinh sự. Đợi khi nào yên ổn, không ngại gì, thì lãnh sự ở lại làm việc, quân lính mang theo rút về hết cả.
Khoản thứ XIV: Người nước Đại Nam cũng được các khoản đi lại, để buôn bán và mua đất làm nhà ở tại nước Đại Pháp và các thuộc địa. Duy phải tuân theo luật lệ nước Đại Pháp. Nếu vua nước Đại Nam muốn đặt lãnh sự ở các cửa biển, các phố ở nước Đại Pháp và các thuộc địa, để tiện coi giữ người nước mình, [thì] đều được tuỳ tiện.
Khoản thứ XV: Người đi buôn của nước Đại Pháp và các thuộc địa cùng các nước khác, muốn đến nước Đại Nam khai thương ở các cửa biển, ở để buôn bán, phải kê khai tên và quê quán, trình nộp ở quan nước Đại Pháp. Quan nước Đại Pháp sẽ chuyển [thông] tư cho quan nước Đại Nam biết. Dân nước Đại Nam muốn đến nước Đại Pháp và các thuộc địa ở để buôn bán, cũng chiểu theo như thế mà làm. Nếu người đi buôn của nước Đại Pháp và các nước khác muốn đi lại xứ khác trong nước Đại Nam có việc gì, phải có giấy thông hành [:đi lại thông suốt] của quan nước Đại Pháp cấp cho, và quan nước Đại Nam thuận phê chữ “dĩ trình” mới được thông hành. Nhưng cấm không được buôn bán vật hạng dọc đường. Nếu trái lệnh cấm thì hàng hoá của người ấy do quan sở tại nước Đại Nam tịch thu hết. Nhưng hiện nay sĩ dân trong nước Đại Nam còn giữ lòng nọ kia, chưa yên lặng hết, thì người nước ngoài chưa tiện thông hành [:đi lại thông suốt]. Nên đợi ngày nào quan nước Đại Nam cùng quan khâm sứ nước Đại Pháp bàn xét hiện tình, quả đã yên ổn, mới có thể cấp giấy cho đi. Và người nước Đại Pháp muốn đến xứ nào trong nước Đại Nam tìm học bác vật, cũng phải [thông] tư cho quan nước Đại Nam biết. Vì người ấy có ý du học, tất phải giữ gìn [:bảo vệ] cho và cấp giấy tờ đầy đủ giúp cho người ấy được tiện đi lại, thông hành tìm học.
Khoản thứ XVI: Người nước Đại Pháp kiện nhau hoặc kiện với người nước khác, đều do quan lãnh sự nước Đại Pháp xét xử. Người nước Đại Pháp với người nước khác kiện nhau với người nước Đại Nam, hoặc xin bày tỏ việc gì, phải trước hết do quan lãnh sự nước Đại Pháp hết sức giữ công bằng phân xử, cốt cho ổn thoả. Nếu có khoản gì trở ngại, quan nước Đại Pháp [ở] thế khó xử đoán một mình được, tức phải [thông] tư xin quan nước Đại Nam hội đồng làm giúp. Quan hai nước xét xử đã được công bằng, thì đôi bên đều phải tuân theo. Người nước Đại Nam kiện nhau với người nước Đại Pháp hoặc người nước khác, phải trước hết do quan Đại Nam hết sức giữ công bằng phân xử, cốt được ổn thoả. Nếu có khoản gì trở ngại, quan nước Đại Nam [ở] thế khó xử đoán một mình được, tức phải [thông] tư xin quan nước Đại Pháp hội đồng làm giúp. Quan hai nước xét xử đã được công bằng, thì đôi bên đều phải tuân theo. Còn người nước Đại Pháp kiện nhau hoặc kiện với người nước khác, đều chuyên do quan nước Đại Pháp xét xử
[Lưu ý: trong điều khoản XVI này, câu cuối lặp lại câu thứ nhất].
Khoản thứ XVII: Người nước Đại Pháp và người nước khác đến địa hạt nước Đại Nam mà phạm tội thì phải giao về các toà ở Gia Định xét xử. Nếu người phạm tội ấy trốn tránh ở địa phận nước Đại Nam, phải [thông] tư cho quan nước Đại Nam nã bắt, thì quan nước Đại Nam cũng phải hết sức dò bắt giao cho quan nước Đại Pháp nhận để làm việc. Nếu người nước Đại Nam đến địa phận nước Đại Pháp mà phạm tội, thì quan nước Đại Pháp chiểu luật lệ nước ấy xét xử, nhưng [thông] tư cho quan lãnh sự nước Đại Nam biết để theo lệ tra xét.
Khoản thứ XVIII: Phàm có giặc ở địa phận nước Đại Pháp, như có phạm các tội làm loạn và trộm cướp, mà trốn [đến] địa hạt nước Đại Nam, [khi đã] được quan nước Đại Pháp [thông] tư cho quan nước Đại Nam biết, thì quan nước Đại Nam tức khắc phải hết sức dò bắt, giao cho quan nước Đại Pháp xét xử.
Nước Đại Nam có giặc phạm các tội làm loạn và trộm cướp, mà trốn đến địa hạt nước Đại Pháp, [khi đã] được quan nước Đại Nam [thông] tư cho quan nước Đại Pháp biết, thì quan nước Đại Pháp cũng phải hết sức dò bắt, giao cho quan nước Đại Nam xét xử.
Khoản thứ XIX: Người nước Đại Pháp và người nước khác có chết ở địa hạt nước Đại Nam, người nước Đại Nam có chết ở địa hạt nước Đại Pháp, thì gia sản người chết ấy phải giao cho con cháu người ấy [nhưng là người con cháu nào theo luật định] đáng được hưởng. Nếu hiện tại không có người đáng được hưởng, thì gia sản người chết ấy đều phải giao cho quan nước ấy [để] chuyển giao cho thân thuộc của người chết ấy ở trong nước nhận lấy.
Khoản thứ XX: Từ ngày quan đại thần hai nước định hoà ước đã kí tên, đóng ấn trở về sau, đợi đủ một năm, vua nước Đại Pháp đặc cách phái một người được sung làm quan khâm sứ hạng nhì đến ở kinh đô nước Đại Nam để tiện theo giữ các khoản đã định trong hoà ước. Chức trách phải làm của quan khâm sứ ấy là khiến cho hai nước tình giao hiếu thường hoà, nghĩa bạn càng hậu. Vua nước Đại Nam nếu muốn đặt quan khâm sứ đến ở kinh đô nước Đại Pháp, cũng theo như thế mà làm việc. Duy phẩm trật, nghi chế của quan khâm sứ ấy, phải đợi hai nước bàn định, cốt được tương đương. Còn bổng lệ của quan khâm sứ ấy và các hạng chi phí, phải do các nước ấy chiểu cấp.
Khoản thứ XXI: Nay ước mới này được đem thay thế điều ước cũ năm Nhâm tuất (1862) trước. Nước Đại Pháp lại muốn chuyển nói với nước Y Pha Nho, cùng theo giữ ước mới này mà bỏ ước cũ đi. Nếu hoặc nước Y Pha Nho không chịu thay đổi các khoản ước cũ, thì ước mới ấy nước Đại Pháp và nước Đại Nam đều cùng theo giữ, mà khoản nào ở ước cũ là thuộc nước Y Pha Nho cùng nước Đại Nam đã định, đều phải theo như cũ. Duy khoản nước Đại Nam còn thiếu tiền bồi thường cho nước Y Pha Nho, thì nước Đại Pháp tự nhận bồi thay. Nước Đại Nam lại chiểu khoản thứ VII trong điều ước mới trả dầân nợ bạc ấy cho nước Đại Pháp đủ số.
Khoản thứ XXII: Nay ước mới đã định, thì hai nước cùng nhau cùng giữ ước ấy, đời đời chớ trái. Đủ một năm hoặc chưa tới một năm, đợi vua nước hai nước phê chuẩn, thì đem đến kinh thành nước Đại Nam cùng giao cho nhau để lưu chiểu. Khi việc đã xong, lại đem hoà ước ấy đều tuyên bố ở trong nước, khiến cho đều biết cả. Và ước mới ấy đã làm bốn (04) bản, toàn quyền đại thần hai nước cùng nhau so sánh, phù hợp, phải kí tên, đóng ấn vào.
Hoà ước trên này bàn định ổn thoả ở Phủ Nguyên soái, thành Gia Định, niên hiệu biên ngày ta là ngày hai mươi bảy (27) tháng giêng năm Tự Đức thứ hai mươi bảy (27), lịch dương lịch là ngày 15 tháng 03 năm 1874”.


13

HỊCH KÊU GỌI KHỞI NGHĨA CỦA VĂN THÂN (176)

“Đây, các bạn, lời thề của chúng ta!
Chúng ta đồng đứng lên chống kẻ thù chung!
Nhà nho chúng ta, theo truyền thống đấu tranh cao quý, chúng ta tạm gác bút nghiên để cầm lấy khí giới.
Hôm nay, hỡi các bạn, hãy chiến đấu cho Công lí!
Hãy quyết tâm ra bãi chiến trường.
Công lí ở về phía ta. Chúng ta thề tử chiến với kẻ thù, thực hiện các nguyện vọng cao quý của chúng ta.
Chúng ta có lẽ phải, cho nên chúng ta là người bất khả chiến bại. Khi chúng ta đứng lên, Công lí của chúng ta sẽ được tô điểm bởi một trận thắng vẻ vang!
Than ôi! Mối đạo giả dối của Gia Tô đã vào nước chúng ta.
Kinh cầu nguyện của chúng chiêm ngưỡng chúa [Nhi Nhu (Jésus)] và các vị thánh.
Bọn đui! Bọn điếc! Bọn ngu!
Các chủ thuyết của chúng dạy rằng không có cha cũng không có vua trên đời này.
Bọn chó! Bọn dê cừu!
Lời biện bác của chúng đều vô lí và xuyên tạc.
Thái độ của chúng khiêu khích và phách lối!
Từ năm 1858, những đau khổ đã đến với Đất nước chúng ta và đang tàn phá.
Xưa kia, tiên nho chúng ta đã khuyên dân chúng chiến đấu và thú dữ bị buộc phải thôi gào thét. Tổ tiên chúng ta đã quyết tâm phục vụ các phán quyết của hoàng đế.
Nào ai có thể chịu dùng giải pháp tạm thời để tránh những phiền toái?
Chúng ta hãy nhớ các quan nhà Tấn (265 – 420) vì tranh giành quyền lợi làm cho tổ quốc suy tàn. Các đại thần nhà Tống (960 – 1276) phá rối trị an và gây ra những rắc rối chính trị. [Thừa cơ,] bọn rợ từ phương tây [của Trung Hoa] rốt cuộc xâm chiếm và lấy nửa phần đất nước; nhà Tống buộc phải kí kết một hiệp ước nhục nhã để chấm dứt tranh chấp. Không có võ quan nào can đảm đứng ra dẹp bọn đại thần. Cho nên bọn rợ vào nước và dân lành buộc phải sống chung với chúng.
Than ôi! Bọn mọi rợ đang sống trong Đất nước chúng ta.
Xấu hổ biết bao! Nhục nhã biết bao!
Không người dân nào trong sáu tỉnh [Nam Kì] là thủ phạm. Họ ở xa triều đình và bị gán cho một tội mà họ không có trách nhiệm. Vậy thì ai chịu trách nhiệm gây sự đau khổ cho dân?
Vũ trụ đầy tiếng kêu cứu và tiếng khóc than đau khổ của người dân. Họ mất sự vui sống và chìm đắm trong cảnh nghèo khổ. Các nhân sĩ, ngoài [Bắc Kì] kia, có đạo đức và nguyện vọng cao quý, nhưng không làm gì được: xa hoàng đế và ở trong cảnh chịu tối, chịu rét. Cha già của họ đã mất hi vọng cuối cùng là con mình ngày sau làm quan.
Điều tệ hại là chúng ta để kẻ thù của chúng ta làm hại càng lâu, dân chúng chịu thiệt hại càng nhiều, và chúng đòi chúng ta khoản “bồi thường” càng lớn.
Trên mặt thực tế, chúng đã chiếm đoạt những vùng đất phì nhiêu, nơi đó chúng đã xây cất “chùa chiền” [đúng hơn, ấy là “giáo đường”] của tà đạo.
Trên mặt đạo đức, chúng đã cố sức đầu độc Đất nước chúng ta để biến thành một nước Thiên Chúa giáo.
Chúng xem các ông cha bà mẹ của giống nòi chúng ta như heo chó.
Chúng làm nhục đạo đức Khổng giáo chúng ta.
Chủ thuyết của chúng đặt lợi ích trên hết.
Ngôn từ của chúng xúc phạm liêm sỉ.
Đó là trò cười tột độ.
Chúng làm bất cứ gì, bất kể thế nào.
Chúng ta cứ để chúng làm thế hoài sao?
Để chống nguy cơ, phải nhổ càng sớm càng tốt những mầm xấu có thể sản sinh sau này không ít kẻ thù. Nếu chúng ta mở cửa cho kẻ thù, tất cả sẽ mất hết. Vậy nên phải tận diệt chúng để khỏi hối hận về sau.
Chúng tôi kêu gọi sự tham gia cao quý của các bạn.
Nếu ở vào thời thái bình, các bạn sẽ được hưởng thụ những truyền thống tốt của chúng ta: một chức quan ở triều đình với tước công hầu; hoặc các bạn thi cử đỗ đạt và được danh dự có tên trong danh sách trúng tuyển; hoặc được chính phủ cấp dưỡng để học hành, nhận được lương thực và áo gấm do hoàng đế ban cho; hoặc các bạn là sĩ tử của các kì thi tuyển.
Dù cách nào, dù các bạn hiện là: phú hộ, cai tổng, lí trưởng, nhân sĩ, thân hào – tất cả đều hưởng đặc ân của hoàng đế. Cho nên chúng ta có bổn phận vì hoàng đế mà cầm khí giới trừng phạt kẻ thù.
Khổng tử nói: “kiến nghĩa bất vi vô dũng giã”.
Nay là thời kì chiến đấu. Chúng ta cần người trung thành, kiên quyết và nghĩa khí. Hãy đoàn kết và tổ chức thành đội ngũ. Hãy tước đoạt tất cả phương tiện quân thù dùng để xâm nhập nước ta. Như thế bọn rợ Phương Tây sẽ mất hết các cơ sở hành quân trên Đất nước.
Hãy trông gương của Lý Cương đời Tống. Ông đã lìa Triều đình đòi đánh với kẻ thù. Đáp lời kêu gọi của ông, các học sinh Quốc tử giám đã cầm lấy khí giới. Hoàng đế bắt tội ông và giam vào ngục. Hành động anh hùng của ông khiến học sinh và con cái nhà nho nổi dậy.
Biến động hiện nay liên hệ đến sự mất còn của Đất nước. Không có chỗ cho quyền lợi riêng tư. Chúng ta đồng một lòng nhận xét như thế. Nếu các bạn, những người trung nghĩa, các bạn không tham gia vào cuộc chiến đấu oanh liệt vì Tổ quốc, Trời cao không khi nào dung tha các bạn. Chúng ta không sợ chết.
Dù chúng ta chưa nhận được sắc dụ cho phép, dù chúng ta có thể bị hoàng đế kết tội, cũng không đáng kể: Phải hành động! Chúng ta sẽ xin phép hoàng đế sau này. Dù thế nào, chúng ta cũng sẽ tiêu diệt được chúng, chúng ta ít ra cũng sẽ trở thành anh hùng dân tộc.
Không cần phải mắng nhiếc kẻ thù. Điều phải làm là hành động! Hãy theo về với chúng tôi! Hãy suy nghĩ kĩ đi.

Ngày mùng hai tháng hai,
năm thứ hai mươi bảy triều Tự Đức
(ngày 19.03.1874)”.


Lời hịch được tung ra, sau khoảng hai mươi ngày, kể từ giờ phút cuộc khởi nghĩa văn thân Nghệ – Tĩnh bùng nổ.
Hai vị lãnh đạo là tú tài Trần Tấn và học trò của ông, người cũng đã đỗ tú tài: Đặng Như Mai. Hai thầy trò đều là người huyện Thanh Chương, thuộc tỉnh Nghệ An (177). Trong những năm trước, sau khi Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp kí kết “hoà” ước Nhâm tuất 1862 với Pháp, họ đã kịch liệt chống đường lối nghị “hoà”. Lãnh đạo một số người, Trần Tấn và Đặng Như Mai đã tấn công, đốt phá nhiều giáo đường “tả đạo” tại quê hương xứ Nghệ. Để ổn định tình hình chính trị, và do sự kiện cáo của các giám mục, linh mục thực dân Pháp như Gauthier (Ngô Gia Hậu), Croc (Phê Chính Hoà), cả hai thầy trò đều bị quan quân triều đình bắt giam. Xét thấy Trần Tấn và Đặng Như Mai đều nặng lòng yêu nước, căm thù giặc Pháp sâu sắc, đặc biệt là họ cực kì thù hận “tả đạo” Thiên Chúa giáo, nên họ được triều đình phóng thích (177). Lòng căm hận “tả đạo”, tất nhiên trong số “tả đạo” ấy có cả Nguyễn Trường Tộ, người đồng hương với họ, hầu như không bao giờ nguôi. Sau khi được thả về quê, hai thầy trò viết thơ văn tiếp tục công kích “tả đạo” Thiên Chúa giáo, một tôn giáo đã bị thực dân hoá, trở thành công cụ tâm linh để phục vụ cho việc giành dân, cướp nước của Phương Tây (177).
Trừ những vùng giáo dân phía tả ngạn sông Hồng, dưới sự quản lí của các cố đạo Tây Ban Nha, hầu như các giáo xứ Đàng Ngoài thuộc cố đạo Pháp đều trở thành tay sai của Françis Garnier! Đến nay, sau cuộc gây rối và đánh chiếm Hà Nội cùng các tỉnh trung châu Bắc Kì của Jean Dupuis, Françis Garnier, cuộc “sát tả” ngoài Bắc đã nổ ra và thổi bùng ngọn lửa căm uất “tả đạo” tại điểm nóng Nghệ An – Hà Tĩnh. Chính trong thời điểm Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định thất thủ, bản chất của giáo dân “tả đạo”, bọn “giậu đổ bìm leo”, kể cả những kẻ mượn chiêu bài “phù Lê”, có dịp bộc lộ một cách trắng trợn. Bản chất phản quốc, tay sai của những tên được Françis Garnier phong chức sắc để làm nô bộc cho y, như tên ngụy tổng đốc Trương chẳng hạn, cũng là bản chất của một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” đốn mạt.
Không phải ngẫu nhiên có mối liên quan giữa cuộc “sát tả” Bắc Kì với cuộc khởi nghĩa văn thân Nghệ – Tĩnh. Bọn cố đạo thực dân Bắc Đàng Ngoài tại Hà Nội như giám mục Puginier, rõ ràng đã câu kết với Jean Dupuis, góp vốn cho y đến tám ngàn quan để buôn súng theo mục đích chính trị xâm lược (178), và câu kết với Françis Garnier trong việc tuyển mộ giáo dân làm “lính bản xứ” (178). Cũng không ai không biết, chính giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu) thuộc giáo phận Nam Đàng Ngoài (các tỉnh bắc hữu kì) cũng chẳng khác gì. Bức thư Jean Dupuis trả lời giám mục Gauthier trong việc câu kết “buôn súng”, trước đây đã được tổng đốc An – Tĩnh Tôn Thất Triệt bắt được (179). Triều đình đã cho sao bản dịch bức thư ấy ra để phổ biến cho các quan, nhất là quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương, hiểu rõ và tìm cách đối phó (179).
Nếu ở Bắc Kì, có đến một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” lộ mặt, thì ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Quảng Bình cũng không ít hơn, nhưng ở dạng tiềm ẩn, chuẩn bị! Do đó, phong trào “sát tả” ở các tỉnh hữu kì, kể cả tỉnh hữu trực kì Quảng Bình, không thể không nổ ra!
Đến lúc này, hiện thực là lửa và máu. Lửa đã cháy trên bao ngôi nhà dân lương, dân giáo, đều là người Việt. Máu đã đổ từ bao người dân, dù lương hay giáo, cũng là người Đại Nam. Gọi cho thật chính xác, đây là cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ – Tĩnh. Trong khi đó, không có một tên lính Pháp viễn chinh bỏ mạng, không một cố đạo Tây dương thực dân nào bị thương tích. Bọn Pháp cầm súng hay cầm thập giá xâm lược đã thành công trong việc xúc xiểm hai phía lương – giáo, chúng đang khoái trá trong cuộc nội chiến đau lòng này!
Bi kịch lương – giáo, nói rõ ra là xung đột giữa một bên là Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và chủ yếu là đạo thờ cúng tổ tiên, anh hùng dân tộc lâu đời của người Việt với một bên kia, là Thiên Chúa giáo câu kết với thực dân Pháp, Tây Ban Nha. Bi kịch ấy đã thành nội chiến!
Triều đình Huế cũng đang rơi vào bi kịch!
Trước “hoà” ước Nhâm tuất 1862, vua Tự Đức và đình thần, biên thần cùng bao sĩ phu khác trên Đất nước cũng chủ trương “bình Tây sát tả”, đâu khác gì hai thầy trò tú tài Trần Tấn, tú tài Đặng Như Mai! Có điều, “bình Tây” vẫn phải là nhiệm vụ tiên quyết, và “sát tả” phải đi đôi với “bình Tây”. Đánh giặc ngoài vẫn phải là mục tiêu hàng đầu; tiêu diệt, khống chế thù trong tuy là mục tiêu song song, nhưng vẫn thứ yếu.
Sau “hoà” ước Nhâm tuất 1862, nhất là giai đoạn này, vua Tự Đức đã bước sang đường lối tiến hành “sách lược thoả hiệp tạm thời” (180) với thực dân Pháp và cả với “tả đạo” Thiên Chúa giáo! Trước tình thế Bắc Kì như vậy, đành phải đối phó một cách bất đắc dĩ như thế. Tuy nhiên, hai thầy trò Trần Tấn và Đặng Như Mai lại tung ra lời hịch với mục tiêu “sát tả”, xem “sát tả” là mục tiêu, nhiệm vụ tiên quyết (181). Không hề thấy nghĩa quân dưới sự lãnh đạo của hai lãnh tụ khởi nghĩa văn thân Nghệ – Tĩnh tấn công vào bọn Pháp mà họ thương gọi là “bạch quỷ”, “bọn mắc bệnh bạch tạng”, bọn mắt xanh mũi lõ viễn chinh, mà chỉ nhắm vào dân ngụy theo “tả đạo” và đốt phá giáo đường, chủng viện Thiên Chúa giáo.
Không thể nói hai lãnh tụ Trần Tấn, Đặng Như Mai không yêu nước, không trung thành với triều Nguyễn. Nhưng quả thật, họ trung quân ái quốc theo cách suy nghĩ của riêng họ! Trung quân ái quốc là đúng, nhưng trung quân ái quốc như thế nào lại là vấn nạn lớn. Vấn đề là ở đó!
Và vấn đề là triều Nguyễn đang rơi tuột vào bi kịch một cách đau lòng! Cả vua Tự Đức và quan lại đều thấm thía bi kịch đó, và đều muốn thoát khỏi, nhưng không cách nào khác!
Đến cuối tháng hai nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (1874), Trần Tấn và Đặng Như Mai đã bị quan quân của tổng đốc An – Tĩnh Tôn Thất Triệt, tổng thống Hồ Uy (Oai), tham tán Chu Đình Kế đánh tan, phải chạy lên miền núi (182). Mặc cho gươm súng của lực lượng quân binh chính quy thuộc triều đình và bao lời hiểu thị, thuyết phục của toản tu người Hà Tĩnh Đặng Văn Kiều, mặc cho sự thất bại của hai lãnh tụ Trần Tấn, Đặng Như Mai, nhân dân Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá vẫn hưởng ứng lời hịch khởi nghĩa văn thân. Đầu tháng ba nguyệt lịch, Trần Quang Cán phối hợp với Trần Tấn, Đặng Như Mai tấn công, chiếm giữ được đến tám (08) phủ huyện Nghệ – Tĩnh. Trong cuộc khởi nghĩa này, có vai trò thủ lĩnh nổi bật của Nguyễn Huy Điển (tú tài Khanh, người Hà Tĩnh) và Trương Quang Thủ (đội Ngọc, người Mường ở Quảng Bình) (182).
Thượng thư Lê Bá Thận lập tức được sung làm khâm sai đại thần, cầm quân tiến ra Nghệ – Tĩnh. Liền sau đó, Vũ Lã, Nguyễn Văn Thuý, Trần Văn Chuẩn, Đỗ Đệ đều được sắc dụ tiến ra phối hợp (183).
Tình hình rất căng thẳng, chưa giải quyết được. Mới tính trong những ngày tháng hai nguyệt lịch, đã có đến hơn một ngàn (1.000) dân giáo bị giết chết (184)! Vì vậy, các quan tỉnh Tôn Thất Triệt, Phạm Hy Lượng, Nguyễn Đôn liền bị cách chức. Kinh lược sứ Bắc Kì Nguyễn Chính (Chánh) lại được lãnh tổng đốc An – Tĩnh; sung hiệp thống đại thần kiêm nhiếp bố chính sứ Thái Nguyên Vũ Trọng Bình được điều động vào, lãnh tuần phủ Nghệ An (185).
Mới ở Nam Kì ra, vào đầu tháng năm, Giáp tuất (1874), phó sứ Nguyễn Văn Tường liền được thăng thượng thư Bộ Hình, sung Cơ mật viện đại thần, tước hiệu Kì Vĩ bá (186). Dịp này, Trần Tiễn Thành cũng được thăng Văn Minh điện đại học sĩ (bậc thứ hai trong tứ trụ) nhờ có công trong việc tiến cử Nguyễn Văn Tường để thương thuyết lấy lại bốn tỉnh Bắc Kì những tưởng mất hẳn vào tay Pháp (hoặc, bốn tỉnh Bắc Kì có lấy lại được cũng không thể lấy lại một cách khôn khéo như thế, nếu là người khác chứ không phải Nguyễn Văn Tường đảm trách) (186). Và vào trung tuần tháng ấy, phó sứ Nguyễn Văn Tường liền được sung làm khâm sai, đến Quảng Bình làm tham mưu cho quân thứ của Lê Bá Thận, với tư cách thượng thư Bộ Hình (187). Đó là cánh quân phía nam.
Bấy giờ, cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ – Tĩnh đã lan rộng vào Quảng Bình, lan rộng ra Thanh Hoá, máu lửa đỏ rực đất trời bốn tỉnh, đường giao thông và đường trạm hoàn toàn bị nghẽn. Quân binh cánh phía nam tìm cách tiến quân trên thượng đạo (vốn do Nguyễn Văn Tường đề xướng và phối hợp chỉ đạo xây dựng), để phối hợp với cánh quân tiến vào từ phía bắc.
Cánh quân tiến vào từ phía bắc do Tôn Thất Thuyết chỉ huy (188). Tuần phủ Sơn Tây sung tham tán thuộc tôn thất ấy, những năm vừa qua nổi bật lên với tầm vóc của một vị tướng trẻ rất tài năng về thao lược. Ông được lệnh đưa hai ngàn (2.000) quân và hai (02) thớt voi vào Thanh Hoá, phối hợp với quân của hộ đốc Thanh Hoá Tôn Thất Tĩnh, bố chính sứ Hoàng Hữu Xứng, án sát sứ Nguyễn Khuyến (nhà thơ tam nguyên Yên Đổ) để đánh dẹp phong trào “sát tả” tại địa phận tỉnh (188). Đến tháng sáu nguyệt lịch này, cuộc nội chiến lương – giáo Nghệ – Tĩnh đã lan mạnh ở huyện Nông Cống xứ Thanh.
“[Tôn Thất] Thuyết được tờ [thông] tư của tỉnh Thanh, lại được tỉnh Nghệ báo là giặc chiếm giữ thành Hà Tĩnh, quan quân ở thứ Quảng Bình [của Lê Bá Thận, Nguyễn Văn Tường] hiện chưa tiến đánh, bèn cùng thống đốc Hoàng Tá Viêm bàn định hiện tình ở quân thứ [Sơn Tây] hơi thư [(…)],chính nên đi đến chỗ cần kíp […] (188)…
Đến khi đến tỉnh Thanh Hoá, [Tôn Thất Thuyết] lại xin lấy Nguyễn Đình Thi sung chức tán lí, Trương Văn Đễ quyền sung tán tương […] (188)…
Khi ấy bọn giặc ở Nghệ An từ xã Hoàng Mai (thuộc huyện Quỳnh Lưu, giáp núi Ngọc Sơn) tràn sang phủ hạt Tĩnh Gia, đánh và quấy nhiễu. (Các sở đóng [quân] để ngăn chận như Hà Niệm thượng, Hà Niệm trung, Du Xuyên, Sơn Châu, Đội Trà, quan quân nguyên đóng ở đấy đều vỡ cả). Quan tỉnh Thanh Hoá đã phái quan quân đem bảy trăm (700) quân chia làm ba đường tiến đánh. [Tôn Thất] Thuyết tức thì đem bọn đề đốc, lãnh binh tiến quân, hợp với [quân] tỉnh Thanh Hoá đánh giáp lại, toàn được thắng trận (chém được đầu giặc, thu được tang vật của giặc rất nhiều, mà toàn quân chỉ có bốn người bị thương nhẹ). [Tôn Thất Thuyết] đuổi thẳng đến địa giới Tuần La (giáp Nghệ An), giặc ấy đều trốn chạy tan. [Tôn Thất Thuyết] rút quân về tỉnh đóng để trấn áp […] … Sau giặc ấy chuyển về hạt Nghệ An, rồi lại gọi nhau tụ họp ở các xã Thiện Kỵ, Hoàng Mai. Đường trạm không thông được. [Tôn Thất] Thuyết bèn mang quân đến địa giới Nghệ An, tiến đánh. Giặc thấy thanh thế quân lừng lẫy (khi ấy quan quân tỉnh Nghệ An hiện đương tiến đánh đến đấy), [chúng] đã chạy trốn trước. [Tôn Thất] Thuyết nhân tiện đến thẳng Trường thi tỉnh Nghệ đóng quân, cùng với tổng thống Nguyễn Chính hội bàn, cùng đánh” (188)
.
Chỉ huy cánh quân từ phía nam tiến ra, khi đến Quảng Bình, Lê Bá Thận vẫn lần chần chưa tiến (187). Theo đường bộ, Nguyễn Văn Tường phóng ngựa cùng quan binh hành quân ra bổ sung. Nhưng quân thứ tiến tới ngang sông Gianh, vẫn chưa tiến thêm được (188).
Bấy giờ, tại Nam Kì, thống đốc thực dân Pháp Krantz rất sốt ruột về bản thương ước chưa được kí kết. Y liền cho chiếc tàu thuỷ Antilope chở linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư (Thơ) ra kinh đô Huế, với thư trình gửi vua Tự Đức, mong nhà vua điều động các sứ thần (Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn) vào Gia Định để tiếp tục bàn định và kí kết thương ước (189).
“… Nhưng Tàu Antilope ra đến Huế, thì chánh sứ [Nguyễn Văn Tường] vắng mặt vì [đang bận] tảo thanh phiến loạn ở sông Gianh [“sông phía bắc Đồng Hới” – chú thích của Cadière, chủ biên BAVH.]. Thế là [linh mục Nguyễn Hữu Cư] theo tàu Antilope ra sông Gianh luôn, và nhập với quan quân đi tảo thanh. Nội một ngày, quân cướp tan rã. Các sứ trở vào kinh đô tấu trình lên hoàng thượng [Tự Đức] kết quả chuyến đi [tảo thanh ấy]; và xin lên đường vào Sài Gòn [tiếp tục nhiệm vụ bàn định,] kí kết thương ước với đề đốc Krantz” (189).
“Khi ấy, bọn khâm sai Nguyễn Văn Tường theo [lệnh] dụ [của vua] đi tàu thuỷ nước Tây, đem ngay thuyền công và thuyền đánh cá, chia ra bắn vào đồn giặc ở các xứ Mũi Dao, Đèo Con, Thần Đầu, đốt hết cả, giặc sợ, chạy tan. Thống đốc Lê Bá Thận cùng quân các đạo kế tiếp tiến đến. Giặc nghe đại binh tiến đến, bỏ thành huyện Kỳ Anh trốn đi… […] (190).
[…] Lê Bá Thận lại tâu: “Lần này quan quân đến gần thành đạo [Hà Tĩnh], bọn giặc liền trốn ngay từ trước…”…
Vua dụ bọn Lê Bá Thận rằng: “Trẫm nghe quan quân đi đến đâu, dân trong hạt phần nhiều đem sản vật thổ ngơi khoản tiếp, chẳng những có thẹn vừa đổi, còn có thể đổi được lỗi trước. Tuy đem [chỉ] giỏ cơm bầu nước để rước quân nhà vua, [mà] đối với đời xưa, có kém gì. Hiện nay đường chạy trạm đã thông, quan quân thứ các ngươi phải nên xem cơ hội đánh bắt, cốt cho kẻ có tội phải chịu tội với pháp luật, người bị hiếp phải theo thì chớ trị tội, để kịp rút quân về được sớm”” (190)
.
Cùng với tàu thuỷ Antilope, chánh sứ Nguyễn Văn Tường, phó sứ Nguyễn Tăng Doãn và linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư liền vào Gia Định. Trước khi sứ bộ xuống tàu thuỷ, đại thần quản lí Nha Thương bạc Nguyễn Hữu Lập tâu lên vua Tự Đức: “Nay việc Nghệ – Tĩnh đã yên, mà dân giáo tụ họp chia đặt để báo thù, đốt [nhà], giết [người]; giặc biển ở Bắc Kì quấy nhiễu. Tướng nước Pháp từng muốn đánh giúp, để tiện mở thông thương. Xin [thông] tư cho sứ thần [Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn] đem việc ấy bàn với tướng Pháp [để] phân xử, ngõ hầu mong được chóng yên việc”. Vua nghe theo” (191) . Nguyễn Hữu Lập là người làng Trung Cần, tỉnh Nghệ An, cũng đồng huyện Thanh Chương (192) với Trần Tấn, Đặng Như Mai.
Cuộc nội chiến lương – giáo Nam Đàng Ngoài trong thực tế, vẫn chưa nguôi và chưa yên, ngay cả sau khi lãnh tụ Trần Tấn bị mất vì bệnh tại Cam Môn, Hà Tĩnh, lãnh tụ Đặng Như Mai và thủ lĩnh Trần Quang Cán bị quan quân sở tại bắt sống, xử tử hình, cũng trên Quỳ Châu, vùng núi ấy! Cả ba cái chết đều xảy ra vào giữa tháng tám Giáp tuất (1874) (193)! Tuy thế, lòng thù hận cuồng điên của giáo dân vẫn bị kích động không ngừng, đến nỗi vua Tự Đức đành đoạn đến mức bất công là đã ra sắc dụ tịch thu tài sản, định mức tội lây đối với thân thuộc của những lãnh tụ, thủ lĩnh phong trào văn thân “sát tả” Nghệ – Tĩnh (194)! Những tranh chấp, kiện tụng, đòi bồi thường, thậm chí đòi đền mạng, do giáo dân bị kích động ấy, vẫn dai dẳng diễn ra mãi đến nhiều năm sau!

Hết tệp 5 truyện kí thứ 7


Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 7 vào lúc 11 giờ kém 05,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ, HB.2).


TRẦN XUÂN AN

(169) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 482 – 485.

(170) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 486.

(171) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 26 – 27.

(172) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 323 – 329; ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 35.

(173) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 485.

(174) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 487.

(175) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 12 – 22. Xem thêm: chú thích (264) ở truyện kí thứ tám của bộ truyện – sử kí – khảo cưú tư liệu này (“hoà” ước Nhật – Mỹ, 1858).

(178) Dẫn theo: NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 241 – 244.

(177) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 22 – 23, 213; ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 205; ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 10.

(178) AOM. Aix, Amiraux 11990, 05.01.1876, dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. &TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 76 – 77: chỉ có một tư liệu về vấn đề này. Xem thêm: sđd., ở tr. 88, GSTS. Y. Tsuboi viết: “Về phía Pháp, Dupuis đã nhận được sự yểm trợ khá kín đáo. Giám mục Puginier đã cho hắn vay trước tám ngàn (8.000) quan. Phần đô đốc Dupré, vào tháng bảy (07) năm một tán bảy ba (1873), ông cũng ứng trước cho hắn ba vạn (30.000) đồng bạc qua đại lí ở Sài Gòn của Hiệp hội Ngân hàng Hương Cảng và Thượng Hải”. Ở chú thích cuối trang sách 88 này, Y. Tsuboi lại viện dẫn G. Taboulet và chính Dupuis để đoan chắc thời điểm Puginier cho Dupuis vay là giữa tháng 05 và tháng 10.1873, để dùng cho chuyến chuyên chở hàng cấm thứ hai của y. Về tên giám mục thực dân Puginier này, trong việc câu kết với F. Garnier, GS. Trần Văn Giàu trích thư ngày 08.07.1873 của lãnh sự Pháp tại Quảng Châu để minh chứng: “Không phải hai ngàn (2.000) quân và bốn (04) chiến hạm như ông Sê-nê [Sénez] yêu cầu, mà chỉ cần một chiến hạm, vài pháo thuyền đã nằm sẵn ở Sài Gòn và một tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến gửi đến cửa sông Cái là đủ biến Bắc Kì thành thuộc địa. Sáu ngàn (6.000) người công giáo mà giám mục Puy-gi-nhê [Puginier] tự cho có trách nhiệm chiêu mộ, có vài ba người huấn luyện viên, sẽ đủ để mà giữ Bắc Kì…” (CXL., sđd., 2001, tr. 296). Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 520, viết về sự câu kết giữa “tả đạo” Bắc Kì với “tả đạo” Nghệ – Tĩnh, theo giọng điệu viết sử dưới thời bạo quyền thực dân của ông ta: “Nguyên lúc bấy giờ dân trong nước ta chia làm hai phái: bên lương, bên giáo; hai bên vẫn không ưa nhau. Đến khi xảy ra việc đại uý Françis Garnier lấy Hà Nội, bọn sĩ phu ở mạn Nghệ – Tĩnh thấy giáo dân có nhiều người theo giúp ông ấy, thì lấy làm tức giận lắm, bèn rủ nhau nổi lên đánh phá”. [Về Trần Trọng Kim và cuốn VNSL., chúng tôi đã có nhiều dịp phê phán; ở đây, chúng tôi chỉ ghi nhận lượng thông tin xác thực này].

(179) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 306.

(180) Lénine: “Thoả hiệp với kẻ thù mà có lợi cho cách mạng, chúng ta vẫn sẵn sàng thoả hiệp”; ý tưởng ấy thể hiện trong việc thoả hiệp với phát-xít Đức ngay sau Cách mạng Tháng mười trước sự tấn công của các nước đế quốc tư sản (hiệp ước Brest – Litovsk, ngày 13.5.1918); xin xem: Ban Tuyên huấn Trung ương, Vụ Huấn học, Lịch sử thế giới, Nxb. Sách Giáo khoa Mác – Lê-nin, 1975, tr. 80 – 82, 94.

(181) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 520; GS. Trần Văn Giàu, Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử (HYTPK. & STBCNTNVLS.), Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 368 – 369, 452 – 456.

(182) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 35, 37, 39.

(183) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 61.

(184) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 28.

(185) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 40.

(186) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 58.

(187) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 62.

(188) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 68 – 70.

(189) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 487.

(190) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 77 – 78.

(101) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 78.

(192) Quốc sử quán triều Nguyễn và Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), bản dịch: Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự Thanh, Nxb. Tp. HCM., 1993, tr. 300.

(193) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 107.

(194) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 104 – 105.


Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2)
.

TRẦN XUÂN AN
HẾT TỆP 5
TRUYỆN KÍ THỨ 7
thuộc tập 2 bộ sách “PCĐT. NVT.”
(từ tr. 93 đến tr. 120)
Xin xem tiếp TỆP 6 truyện kí thứ 7
thuộc tập 2 bộ sách “PCĐT. NVT.”
(từ tr. 121 đến tr. 148)

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II A 4)

Tệp 4 - Tập II
(PHÂN ĐOẠN 4, TRUYỆN KÍ THỨ 7)

Sẽ đăng trên Tạp chí điện tử Giao Điểm
số tháng 12-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm


TRẦN XUÂN AN

CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874


Truyện kí thứ bảy
(phân đoạn 4)

9

Ngày mùng một tháng mười một, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quý dậu (1873), hai phái đoàn của hai bên rời Huế. Hai hôm sau, mùng ba, chiếc tàu thuỷ D’Estrées rời cảng Đà Nẵng. Mùng năm, tàu đến Cửa Cấm (Hải Phòng) (128).
Đến lúc này, Philastre và những tên Pháp khác cùng linh mục thông ngôn Nguyễn Hoằng trong phái đoàn Pháp mới được thư thông báo của chính những tên thực dân đang đóng tại Hà Nội gửi xuống: Françis Garnier đã bị hạ sát cùng mấy tên quan lính viễn chinh. Philastre kinh hoảng. Y cảm thấy chưa bao giờ kinh hoảng đến thế. Y đập tay xuống bàn giận dữ. Các tên đồng bọn cũng sùng sục căm tức và phập phồng lo âu.
Philastre vẫn đang bừng đỏ sắc mặt xen lẫn nét thất thần, nhưng cố bình tĩnh thông báo lại cho phó sứ Nguyễn Văn Tường và các viên quan tuỳ tùng của phái đoàn Đại Nam. Nhìn Nguyễn Văn Tường, người mà y rất kính nể và cảm phục, Philastre nói tiếp:
- “Việc chắc không xong, phải phi báo [vào] quan Pháp soái [Dupré]. [Chúng tôi thấy] không nên ở lâu [tại đây]” (129) .
Phó sứ Nguyễn Văn Tường thấy Philastre đang rất bối rối và tức giận, ông sợ sẽ hỏng việc lớn, nên mới thong thả nói một cách điềm tĩnh, từ tốn:
- “Việc [chiếm] lấy Hà Nội, quý soái [Dupré] đã nói không phải bổn ý [của quý soái]. Còn như sức [quân] binh bốn tỉnh [Bắc Kì] cũng mạnh, mà nước tôi cũng không đem ra tranh hoành. [Như thế] thiệt là hai bên đều không trái ý nhau. Đến như việc An Nghiệp [Françis Garnier] chết, [ấy là bởi:] hoặc tại kẻ trộm cướp nơi khác đến, hoặc tại dân bổn xứ khích giận. [Vụ] việc [ấy] chưa rõ ràng. Huống chi, trả thành để mau định ước, là lệnh quý soái [Dupré]; nhận thành rồi mới nghị hoà, là mạng [lệnh của] vua nước tôi. Chúng ta chỉ nên cần mạng lệnh ấy. Còn như việc Hà Nội giết An Nghiệp [Françis Garnier], cũng như An nghiệp [Françis Garnier] giết Nguyễn Tri Phương, đều là vụ [biến trong] tình hình, không phải chúng ta làm ra. Nay [chúng ta] chưa từng tới nơi [thì] biết việc thế nào. Mà [thật sự chúng ta mới] chỉ [được] truyền nghe, báo khống! [Như vậy] không những quý soái [Dupré] ở xa khó tính trước, mà chúng ta đi chuyến này thiệt là phụ chức trách lắm. Chi bằng phi thơ [:gửi thư] ra Hà Nội, [bảo] đem tàu hoả [:tàu thuỷ chạy hơi nước] nhỏ rước chúng ta tới nơi, [và chúng ta] như nên theo mạng lệnh trước, hội đồng mà làm, thời càng hay; hoặc nên hỏi cớ An Nghiệp [Françis Garnier] vì sao mà chết, rồi sẽ báo. Vậy chẳng ổn tiện lắm sao?” (129) .
Philastre nhận thấy phó sứ Nguyễn Văn Tường nói rất phải lẽ. Y ngẫm nghĩ thêm một thoáng. Cơn giận dữ xen lẫn kinh hoảng cũng vơi nhẹ bớt nhờ sự điềm tĩnh của Nguyễn Văn Tường. Về việc đổi tàu thuỷ, Philastre tính lại, y vẫn thích đi chiếc tàu Đề Ta Gi (Decrès), và có ý định cho chiếc Đát Tờ Gi (D’Estrées) đang chở hai phái đoàn ra quay trở vào Gia Định để báo. Chiếc D’Estrées lớn hơn và chạy nhanh hơn. Philastre nói ra với Nguyễn Văn Tường điều đó.
Phó sứ Nguyễn Văn Tường bàn:
- “Tàu quý quốc đã tới lại lui ra, e sĩ dân nghe tin, ắt bắt chước làm như Hà Nội, [thì đến lúc ấy] ai cấm ngăn được. [Và lỡ sự thể xảy ra,] sợ khi [về] sau tổn hại càng lắm. [Đến thế], lấy gì thưa lại với quý soái? Nay nên khiến tàu Đề Ta Di (Decrès) ra cửa [biển] đón triệt giặc biển, còn chiếc tàu Đát Tờ Gi (D’Estrées) nên cứ chạy luôn tới Hải Phòng. Trước [hết], giao lại thành Hải Dương, hiểu thị sĩ dân để [họ] rõ tình, tin thiệt, rồi [sau đó] qua Hà Nội, giao hết các tỉnh thành, và hỏi việc An Nghiệp [Françis Garnier], xong sẽ chạy giấy [thông] báo cả một lần, mới là trọn vẹn” (129) .
Philastre nghe theo đề xuất bàn bạc của phó sứ Nguyễn Văn Tường. Y cho tàu Decrès chạy đi dẹp giặc biển, cho tàu D’Estrées chạy đến Hải Phòng, lại liền giao lại bốn tỉnh cho quan Đại Nam ta quản lí, trị nhậm, đồng thời y ra lệnh cho bọn quan quân Pháp rút khỏi các thành tỉnh, lui về tạm đóng tại Hải Phòng, và đoàn tàu thuyền Jean Dupuis cũng không thể hạ neo nơi nào khác ngoài Hải Phòng, vốn là nơi quy định. Philastre những trông mong ngày về, và nhất nhất đều theo yêu cầu của phó sứ Nguyễn Văn Tường.
Phó sứ Nguyễn Văn Tường vẫn luôn luôn giữ được thái độ điềm tĩnh trước tình huống khó khăn. Ông vẫn rất khôn khéo, vừa cứng rắn, đưa ra những dự kiến bất trắc, ngầm để cho Philastre bối rối, lo âu, vừa mềm mỏng, đề xuất những giải pháp có lợi và từ đó thuyết phục Philastre nghe theo.
Philastre vốn là một tên thực dân biết điều nhất trong đám thực dân Pháp, lại đã được Dupré dặn dò gần như cầu cứu y trước sự thể Françis Garnier gây ra, nên Philastre không thể gây rối thêm. Trước khi Philastre ra Huế, chính Dupré đã nói riêng với y: “Với những lệnh rõ ràng như thế [từ Paris], làm sao tôi có thể xâm chiếm Bắc Kì được? Tôi không trách nhiệm gì về những việc đã xảy ra trên sông Hồng Hà. Garnier đã quá vượt quyền hạn của anh ta. Tôi chẳng lúc nào cho phép anh ta dùng bạo lực. Anh ta làm tôi nguy mất… Tôi là người hỏng [việc] rồi, và chỉ có anh [:Philastre] mới cứu tôi được thôi” (130) . Sau khi biết Françis Garnier chết mấy hôm, Philastre lại nhận được điện của Dupré. Trong bức điện ấy hẳn có cả điện văn của bộ trưởng Hải quân Pháp Pothuau (?): “Biến cố buồn [về cái chết của Françis Garnier] mà ông báo cho tôi hay [đã] chứng minh những lo âu của tôi đối với phái bộ đi Bắc Kì mà tôi đã không thể chận lại được” (131) . Philastre thấu hiểu tham vọng thực dân của chính đồng bọn của y đã và đang mâu thuẫn, giằng co với ý thức tránh né trách nhiệm. Philastre càng hiểu cuồng vọng xâm lược của bọn chóp bu và tướng lĩnh Pháp đang phải dè dặt, xung đột với tình trạng hiện thời đang hồi suy yếu của chính nước Pháp. Philastre hoàn toàn tỏ ra ngoan ngoãn trong các thoả thuận, một khi đã đạt được mục tiêu hạn chế trong “hoà” ước và thương ước sắp được kí kết! Có nhiều nguyên nhân, xét từ tâm địa, xét từ tình thế khách quan, để Philastre thoả thuận với thái độ như thế.
Tuy nhiên, để thực hiện được sự thoả thuận trao trả bốn tỉnh Bắc Kì ấy, cũng không phải xong ngay trong một thoáng. Có rất nhiều trở ngại, nhất là sự chống đối của bọn Jean Dupuis, bọn thực dân Pháp do Françis Garnier và Esmez cầm đầu, kể cả các cố đạo Pháp, cùng với sự chống đối của bọn cơ hội, Hán gian, Việt gian (“tả đạo”, “phù Lê”…) ở xứ Bắc Kì này!
Ngày mùng tám tháng mười một nguyệt lịch (1873), trong dự định, sẽ là ngày khởi đầu cho tàu Decrès đi đánh dẹp giặc biển, phòng ngừa chúng thừa cơ tấn công, lại gặp thuyền của chúng ghé đậu tại Hải Phòng. Một trận vây áp diễn ra, bọn hải tặc bị buộc phải bỏ thuyền súng, quay về Tàu (132).
Chiếc D’Estrées tiếp tục chở phó sứ Nguyễn Văn Tường và thống sát Philastre cùng hai phái đoàn hai bên đến Hải Dương. Thành đã bị chiếm bởi 01 sĩ quan và 30 tên lính Pháp (133). Đây là tỉnh trước đấy do Đặng Xuân Bảng làm quyền hộ tổng đốc. Nay bọn Françis Garnier đã đặt tên giáo dân “tả đạo” tên Trương, vốn là một gã thợ rèn, làm tổng đốc thay thế (133) . Tên thợ rèn này được trọng dụng bởi y là “tả đạo” và cũng vì y đã rèn cho đội quân tay sai từ một vạn hai (12.000) đến một vạn tư (14.000) tên “lính bản xứ” vô số vũ khí.
Ngụy tổng đốc Trương xênh xang áo mũ, nghênh ngang xe ngựa, hống hét, tác oai tác quái, ngỡ là từ đây vĩnh viễn tham vọng mê muội về một “xứ Bắc Kì Thiên Chúa giáo thuộc Pháp bảo hộ” đã thành hiện thực vững chãi. Bất ngờ Françis Garnier bị chém bay đầu, lại bất ngờ Philastre và Nguyễn Văn Tường đến để tiến hành trao trả, tiếp nhận. Như thế là tất cả tham vọng lại đổ vỡ!
Phó sứ Nguyễn Văn Tường trực nhận và kết luận sau những phân tích, tổng hợp về tình hình: sự phản ứng của bọn “tả đạo” Việt gian… Ông cho quân lính giả dạng dân thường và dân giáo để dò xét, trinh sát. Tin tình báo thu về: tên ngụy tổng đốc Trương đang thất vọng, phẫn uất đến cùng cực, y quyết tâm phá hỏng việc trao trả và tiếp nhận lại thành luỹ, chính quyền, bằng cách bắt cóc phó sứ Nguyễn Văn Tường để làm sức ép, mặc cả và để trả hận (133). Đúng là phản ứng của những kẻ cơ hội bị bỏ rơi, ở trong thế phải chống lại cái chết.
Phó sứ Nguyễn Văn Tường liền bàn việc với Philastre. Trong khi đó, ông đã bí mật thông tư cho tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên đem quân ta đến. Bốn trăm (400) quân tỉnh Bắc Ninh, 200 quân tỉnh Hưng Yên cùng với số quân ta tại Hải Dương, tất thảy khoảng một ngàn (1.000) người lính (134). Đó là một lực lượng đủ để chống lại phản ứng cùng quẫn bởi u mê rất nguy hiểm của tên ngụy Trương. Và ngụy tổng đốc “tả đạo” tên Trương liền bị bắt, đem xuống tàu thuỷ giam lại. Tổng đốc thợ rèn phản quốc, tay sai giẫy giụa trong bi hài nhục nhã (134)!
Sau đó, phó sứ Nguyễn Văn Tường tạm đặt quan viên quản trị, trong khi chờ sự bổ nhiệm chính thức của nhà vua (135). Ông chọn ngay nguyên Hải Phòng sung biện Nguyễn Duy Tự, người đồng sự quen thân, vốn là tri huyện Thành Hoá, ở Quảng Trị năm nào, làm quyền sung hộ đốc tạm thay Đặng Xuân Bảng, người đang bị cách chức. Hai viên khác, Nguyễn Hữu Độ và Tạ Hiện, quan của quân thứ Hải – Yên, lại do Pháp đề nghị theo chúng để hỗ trợ việc giao nhận thành. Và trong số quan viên mới của tỉnh Hải Dương, còn có nguyên bang biện Hải – Yên quân vụ Vũ Duy Trinh, nguyên tòng lục phẩm văn giai Lưu Đức Long (135). Vũ Duy Trinh là một viên quan của triều đình, nhưng cũng là một kẻ đáng ngờ. Tuy nhiên tình hình đang cấp bách, chưa thể điều tra kịp (về sau mới phát hiện ra y là một tên giặc quấy nhiễu, cướp bóc, đã quy thuận, giỏi nịnh hót, và hẳn là gián điệp, đội lốt quan chức, chui vào hàng ngũ bộ thần, nhưng không thể có cốt cách sĩ phu! (136)). Vả lại, đây chỉ là tạm phân bổ… Ngày mười hai tháng mười một Quý dậu (1873) ấy, Hải Dương đã lại về ta!
Ngày mười lăm (02.01.1874), chiếc tàu thuỷ D’Estrées lên đến Hà Nội. Nguyễn Văn Tường và Philastre bàn định việc trao trả và tiếp nhận lại hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình (137). Philastre tất nhiên cũng đồng thuận.
Ngày mười tám (05.01.1874), Nguyễn Văn Tường, khâm sai đại thần, đại diện cho triều đình Đại Nam, và Philastre, thống sát, đại diện cho phủ suý Pháp tại Nam Kì, cùng kí kết một thoả ước (138), gồm hai khoản:
Khoản I: “Pháp phải giao trả cho triều đình Huế tỉnh thành Ninh Bình vào ngày 08.01.1874 và tỉnh thành Nam Định vào ngày 10.01.1874”.
Khoản II: “Triều đình Huế: không được đưa thêm quân vào các tỉnh thành đó, ngoài một số quân cần thiết, đủ để giữ gìn trật tự; không được tập trung quân trong phạm vi toàn tỉnh; phải để cho số quân Pháp hiện có lúc đó ở Bắc Kì được đi lại tự do trên các tuyến đường thuỷ cũng như đường bộ; phải ra ngay bản tuyên bố ân xá tất cả những người vừa qua đã cộng tác với Pháp” (138)
.
Trần Đình Túc được bàn uỷ quyền lãnh tổng đốc Định – An, Nguyễn Trọng Hợp quyền biện tỉnh vụ Ninh Bình (lẽ ra là Trương Gia Hội). Phó sứ Đại Nam và thống sát Pháp vẫn ở lại Hà Nội để xử lí những việc còn lại (137).
Thấy bước đầu rất cơ bản nhưng đã tạm ổn, phó sứ Nguyễn Văn Tường viết tập tâu đệ trình vào kinh đô Huế. Vua Tự Đức “khen là châm chước thời cơ làm việc khéo” (139) . Nhà vua lại bàn tính việc chính thức bổ nhiệm quan lại bốn tỉnh. Đồng thời vua Tự Đức trao trọn chức phỏng định thương ước toàn quyền đại thần cho Nguyễn Văn Tường. Có điều, theo yêu cầu của Dupré đề đạt ra Huế, việc định ước sẽ bàn sau tại Gia Định. Ngoài ra, Nguyễn Trọng Hợp lại chuyển làm quyền chưởng ấn tổng đốc Hà [Nội] – [Bắc] Ninh. Ông ta sẽ cùng Nguyễn Văn Tường hội đồng làm những việc gì liên quan đến sự vụ ngoại giao. Nguyễn Chính (Chánh) cũng được lệnh rời Thanh Hoá, mang quân về Ninh Bình, Hà Nội để phủ dụ, trấn áp phản ứng cuồng xuẩn của một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” Bắc Kì phản quốc, tay sai (139)
Bọn sĩ quan Pháp, binh lính Pháp thuộc quyền của Françis Garnier cứ một mực bảo nhau và thậm chí chúng biểu lộ trước mặt Philastre, rằng Philastre nhận của hối lộ của triều đình Huế (140). Trong việc tranh biện, bàn định trao trả Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì, không ít những lời lẽ, cử chỉ chống trao trả xảy ra. Phải mất đến ba ngày trời mới ổn thoả (140).
Phó sứ Nguyễn Văn Tường và thống sát Philastre liền triệu tập một vạn hai (12.000) tên lính mộ (“lính bản xứ” do Françis Garnier tuyển). Để mở lượng hiếu sinh và khoan hồng, Nguyễn Văn Tường đồng ý cấp phát tiền lương cho chúng, rồi kiểm soát, tịch thu khí giới. Sau đó, cho chúng giải tán về nhà (140).
Việc chia quân đi trấn giữ và tái lập trật tự ở Ninh Bình, Nam Định và Hà Nội do Hồ Uy và Nguyễn Chính đảm trách (141). Nguyễn Trọng Hợp lại đi nhận thành Ninh Bình, do đó, Trương Gia Hội phụ trách nhận thành Hà Nội (141).
Bấy giờ, Jean Dupuis chưng hửng trước quyết định trao trả Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì! Philastre làm như vậy là hầu như xoá sạch hai năm trời gây rối của y, kể cả việc y phối hợp quân với Françis Garnier để đánh chiếm. Jean Dupuis tìm cách gặp Philastre. Sau mấy hôm, Philastre mới cho y được hỏi chuyện và trình bày ý kiến.
- Thưa ông Philastre, tôi muốn hỏi vì sao tàu chiến Pháp lại đốt phá hai mươi tám thuyền chở gạo Bắc Kì sang Hương Cảng (Hồng Kông) ở Cửa Cấm? Số gạo đó đâu chỉ của Hoa kiều, mà còn có vốn hùn hạp của tôi (142).
- Điều đó tôi không được rõ. – Philastre phớt tỉnh –. Nhiệm vụ của tôi là trao trả lại Bắc Kì để định “hoà” ước và thương ước!
- Nhưng phải bồi thường cho tôi chứ! – Jean Dupuis muốn gầm lên –.
- Tôi đã bảo là không rõ!
- Ông phải thương nghị và cho quân bảo vệ tàu thuyền tôi lên Vân Nam!
- Tôi đã bảo là không rõ!
- Thế thì, ông có phải là kẻ đã bán đứng nước Pháp tại xứ Viễn Đông này không? Ông phải hiểu rằng chiếm cứ Bắc Kì là cả một quá trình gian khó hàng chục năm trời của người Pháp, của các cố đạo như Puginier, của các thương nhân như Jean Dupuis này và của các quân nhân như Doudart de Lagrée, Françis Garnier, Balny… Đâu phải khi không có bọn giặc Cờ và bọn thổ phỉ… làm cho Đại Nam suy yếu… – Càng nói, Jean Dupuis càng tiếc bao công sức, nên giọng trở nên lắp bắp –. Ông phải bồi thường, thậm chí phải trả giá!
Philastre thấy cần phải cho Jean Dupuis biết mặt. Y hét lệnh, bảo quân lính Pháp bắt trói Jean Dupuis theo lệnh thiết quân luật. Jean Dupuis đành xuống nước, đổi giọng kêu nài, tuy vẫn còn hung tợn.
“Phi-lát [Philastre] nói”:
- “Người bán than làm chủ cái tiệm than của mình; các quan An-nam là chủ trong nhà của họ; họ không muốn anh đến ở nhà họ thì anh lấy quyền gì mà anh cứ đến, cứ ở?” (143).
“Đuy-puy [Dupuis] nóng tiết lên, hỏi lại”:
- “Nếu tôi đến ở Bắc-kỳ trái với nguyện vọng của người An-nam thì thử hỏi người Pháp tới ở Nam-kỳ có đúng với nguyện vọng của người An-nam không?” (140).
“Lẽ tất nhiên Phi-lát cứng họng, liền đáp”:
- “Chúng ta đến Nam-kỳ với tư cách của kẻ cướp, kẻ trộm. Anh và Gác-nhê [Garnier] cũng là kẻ cướp, kẻ trộm thôi. Nếu Gác-nhê không chết thì hắn sẽ bị truy tố ở toà án quân sự” (143).
“Đuy-puy đòi lấy của triều đình trong các thành để bồi thường cho hắn, thì Phi-lát trả lời rằng, đô đốc Đuy-pơ-rê [Dupré] không có dặn gì về khoản này cả; Đuy-pơ-rê lại bảo cho Đuy-puy xa lánh Bắc-kỳ đi, đi lên Vân-nam đi, đi mà không được đem theo pháo thuyền quân đội như dạo trước”.
“Còn giám mục Puy-gi-nhê [Puginier], từ khi Phi-lát đến với Nguyễn-văn-Tường thì xuống nước hẳn đi, khóc lóc. Ông thổi phồng thêm những chuyện có thật, là các quan và các nhà nho bắt giết người công giáo đã theo Pháp đánh lại đất nước Nam. Ông kể lể cho Ba-lê-zô [Balézeaux] rằng nhiều làng công giáo đã theo Pháp nay bị đốt; thì Ba-lê-zô đáp”:
- “Các quan An-nam cố sức ngăn cản sự trả thù được chừng nào hay chừng ấy, việc xảy ra nào phải lỗi tự họ đâu; người công giáo phải trả cái gì họ đã vay trong lúc Pháp chiếm đóng, đó là lẽ tự nhiên” (143)
.
“Puy-gi-nhê than”:
- “Bây giờ các ông lại đổ lỗi cho chúng tôi”. “Tôi đã mất hết uy tín đối với tín đồ công giáo rồi” (143)
.
Ngày hai mươi lăm tháng mười một, Quý dậu (12.01.1874), quân Pháp rút khỏi thành Hà Nội về đóng tại Hải Phòng. Quân và tàu thuyền Jean Dupuis cũng thế. Riêng Rheinart, tham biện Pháp, được đóng ở phố Bình Chuẩn, ngoài thành Hà Nội, với bốn mươi (40) tên lính, với lí do để sẽ trông coi việc thương mại (144). Nhưng phải hơn một tháng bốn ngày sau, Hà Nội mới thật sự được trao trả (16.02.1874), theo thoả ước thứ hai (145) được kí kết, vào ngày 06.02.1874, giữa Nguyễn Văn Tường và Philastre:
Khoản I: “Quân Pháp chỉ rút khỏi thành Hà Nội và giao trả thành Hà Nội cho triều đình [Đại Nam] muộn nhất là mười (10) ngày sau khi triều đình đã bố trí được chỗ cho quân Pháp đóng ở Sở Hải phòng (tỉnh Hải Dương)”.
Khoản II: “Triều đình Huế phải dành cho Pháp một dải đất trên bờ sông Hồng, Hà Nội, để lập Toà Công sứ và doanh trại cho binh lính; nơi đó phải ở gần nơi mà sau này, khi thương ước đã thành, thương nhân Pháp có thể đến đấy lập nghiệp”.
Khoản III: “Giăng Đuy-puy (Jean Dupuis) và những thương nhân Pháp, Trung Hoa cùng đi với Đuy-puy, cũng sẽ phải rời khỏi Hà Nội, đến tập trung ở Hải Phòng và được phép ở lại Hải Phòng cho đến khi có lệnh thông thương”.
Khoản IV: “Riêng đối với Đuy-puy, nếu Đuy-puy muốn ngược sông Hồng lên Hưng Hoá để sang Vân Nam, thì phải đề đạt ý kiến với đại diện của Pháp để đại diện Pháp thông báo cho triều đình Huế; và triều đình Huế không được từ chối. Nhưng, trong trường hợp này, Đuy-puy không được tự tiện trở lại Bắc Kì trước khi sông Hồng được khai thương. Nếu Đuy-puy tự tiện đóng ở những nơi khác, phía Pháp sẽ phải chịu trách nhiệm giải quyết; trường hợp bất đắc dĩ, triều đình [Đại Nam] sẽ điều quân đến đuổi đi” (145)
.
Về Jean Dupuis, thế rồi, cuối cùng y cũng bị “khánh kiệt, bị các nhà đương cuộc Pháp bỏ rơi” , mặc dù y tức tối “vào Sài Gòn kêu với suý phủ [Pháp] và đòi tiền phí tổn non một triệu nguyên” (145)! Thật là một cái bung xung bi hài!
Như vậy là đã hoàn tất việc trao trả và nhận lại bốn tỉnh Bắc Kì, kể cả kho tàng, vật hạng. Về các thứ tiền bạc, Philastre soạn giao cho Trương Gia Hội nhận cất (146).
Nhưng trong các làng thôn, phường phố, tình trạng lương – giáo lại bùng lên khốc liệt (147)! Mối bất hoà, căm ghét, kình chống nhau giữa lương và giáo đã âm ỉ – nổ bùng – âm ỉ – nổ bùng từ nhiều năm nay. Đến nay, từ vụ biến gây rối của Jean Dupuis, Françis Garnier, trung châu Bắc Kì nước ta bị thất thủ tỉnh thành, đến việc hai bên trao trả, giao nhận này, mâu thuẫn ấy cơ hồ bộc lộ ra một cách trần trụi, rõ ràng và dữ dội hơn bao giờ hết. Bản chất tay sai của một vạn hai (12.000) tên “lính bản xứ” phản quốc bộc lộ không hề giấu giếm và nay không thể chối cãi. Nhưng đâu chỉ bọn lính mạt hạng ấy! Bọn cố đạo “tả đạo”, cùng những tên cỡ như ngụy tổng đốc Trương mới đáng kể! Giám mục Puginier luôn luôn khôn khéo tránh né bộc lộ bản chất thực dân, tỏ ra không dính líu đến thứ chính trị xâm lược, nhưng tận thâm tâm vẫn nuôi dưỡng các ý nghĩ ghê sợ và vẫn ngầm hoạt động theo ý nghĩ ghê sợ ấy. Những ý nghĩ ghê sợ vốn có ở Puginier trước đó, bấy giờ, nhưng về sau mới rõ ràng trên giấy trắng mực đen:
“Nếu không có thừa sai và giáo dân, thì người Pháp khác nào như những con cua đã bị bẻ hết càng. Ví dụ như vậy tuy mộc mạc song không kém phần chính xác và mạnh mẽ. Thực thế, nếu không có thừa sai và giáo dân, người Pháp sẽ chỉ có địch thủ bao vây; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức sai nhầm đưa tới với ác ý, làm bại hoại tình thế của họ: như vậy họ sẽ bị đẩy vào cái thế không hoạt động được gì rồi nhanh chóng phải hứng chịu những thảm họa thực sự. Họ sẽ không giữ nổi vị trí nơi đây, và sẽ bị buộc phải rời bỏ xứ này, nơi quyền lợi cùng cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại” (148)
Ngay những ngày cuối năm Quý dậu (đầu năm 1874), tại Hà Nội, Philastre đã trao cho Nguyễn Văn Tường và các quan ta xem một bức thư của J. Harmand, tên thiếu tá (quan tư), y sĩ, kiêm tỉnh trưởng (tuần vũ) tạm thời của Nam Định gửi Françis Garnier vào ngày 15.01.1874:
“Tôi tiếp tục gặp những người đến viếng liên tục: Người ta sắp hàng hẳn trước cửa nhà tôi, từ bảy giờ sáng đến tối, và tôi buộc lòng phải tiếp tất cả, luôn trong giờ ăn. Đó là những kẻ, đã gom được một số người, yêu cầu được cấp khí giới, đề nghị được làm sĩ quan, thư lại hoặc là yêu cầu được bổ nhiệm tri huyện hoặc chức lớn hơn. Tất cả hoặc hầu hết là giáo dân [Nam Định] và một số lớn từ Ninh Bình tới, được các linh mục giới thiệu. Trong tất cả các trường hợp ấy, các giáo dân tỏ ra tham lam vô sỉ, vừa vụng về vừa ích kỉ. Tôi luôn tìm cách tiết chế lòng hăng hái này vì lợi ích của họ. Tôi muốn bổ nhiệm, nếu được, nhiều người ngoại đạo hơn giáo dân, theo tỉ lệ dân ngoại đạo và giáo dân, trước là để không gây nên một sự bất bình tự nhiên trong nước, sau là bởi vì giáo dân, hầu hết xuất thân hèn hạ, đã không được chính phủ An Nam dùng, không quen việc, hoàn toàn mới lạ với công việc hành chính. Lại nữa, rất ít người trong số họ là trí thức”. […] “Chắc chắn rằng giáo dân (…) đã xem sự có mặt của chúng ta như ngày của sự phục thù” (149) .
Phó sứ Nguyễn Văn Tường nghĩ ngợi trước hiện thực Bắc Kì với những sự thật rất đỗi đau lòng. Ông viết tập tâu đệ trình vào Huế:
“Việc lương – đạo thù nhau, thần đã từng lấy làm lo. Đã cho đạo binh kinh lược [của Nguyễn Chính (Chánh)] đi nhanh để trấn áp và [thông] tư cho các tỉnh bắt giữ, phủ dụ, khiến cho cùng yên… Thần trộm xét sự thế Bắc Kì dần dần sẽ xong, chỉ có việc lương – đạo không yên làm cho các việc nhân đó mà đổi khác” (châu bản, tấu, 05.12 Quý dậu, đầu năm 1874) (150).
“Nay mai việc lương – đạo ở các tỉnh khá yên, chỉ còn lại vài tên côn đồ thì đã có đạo binh của quan kinh lược [Nguyễn Chính] tuỳ cơ tiễu trừ, phủ dụ, ít lâu sẽ xong. Duy thần trộm nghĩ, muốn việc về sau tốt đẹp thì nên xem chuyện lương – đạo là rất quan trọng. Kẻ gánh vác phải có nhiều cách thể hiểu dụ, dạy bảo khiến cho người ta trông cậy ở mình mà không sợ hãi, tin mình mà không nghi, mới có thể cùng quay về điều tốt đẹp”
(châu bản, tấu, 05.12 Quý dậu, đầu năm1874) (150).
Philastre lại viết bút đàm trao đổi công vụ với Nguyễn Văn Tường, cũng về sự thế lương – giáo hận thù nhau ấy, vào ngày 20.01.1874:
“Khi các tổng đốc Ninh Bình và Nam Định viết thư vắn tắt cho chúng tôi biết rằng các tỉnh của họ đều yên tĩnh, tôi biết đích thực rằng nhiều làng giáo dân ở đây hàng ngày bị thiêu huỷ và phá hoại” (151).
“Các tổng đốc ấy, thật ra, có gởi lời hoặc văn thư quở trách nhẹ nhàng hành động của nhân sĩ (…). Lời răn đe của họ không được nghe vì không có sự trừng trị sau đó” (151)
.
Trong khi đó, triều đình hạ sắc chỉ cho các quan nguyên trước làm việc ở bốn tỉnh, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, văn từ án sát, võ từ lãnh binh trở lên, người nào đã chạy thoát về Thanh Hoá, đều tha cho khỏi bị bắt trói, còn những ai tuỳ tiện trốn tránh nơi vùng giặc chiếm, đều bị trói đem về kinh giam chặt, đợi nghị xử (152). Cấp dưới của các tỉnh ấy, do quan tỉnh mới tiếp nhận, xét nghị (152). Về sau, đến tháng sáu Giáp tuất (1874), các quan đứng đầu bốn tỉnh bị thất thủ đều bị xử từ mức án tử hình tức khắc (trảm, giảo), hoặc chém nhưng được giam để được xét lại (trảm giam hậu), cho làm việc chuộc tội (153)…
Giữa những ngày tháng Hà Nội bị giặc chiếm ấy, phủ Thuận Thành, huyện Gia Lâm (thuộc tỉnh Bắc Ninh) cũng bị Pháp chiếm, giao cho bọn ngụy canh giữ. “Khi ấy dân gian có nhiều kẻ đến lĩnh văn bằng của quan Pháp, ngầm về triệu tập bè lũ quấy nhiễu” (154) . Tán tương Trương Quang Đản kéo quân đến đánh úp, chiếm lại thành, hạ sát năm mươi (50) tên ngụy. Bọn Pháp lại đem quân theo ngụy đến tái chiếm. Cuộc đánh chận do quân ta chủ động diễn ra. Ba trận giao chiến sau đó quân ta đều thắng. Pháp bị tử thương bốn (04) tên, ngụy bị hạ sát đến một trăm rưỡi (150) tên. Tướng ngụy tên Thao chạy trốn sang huyện Kim Anh, bị bắt sống. Đấy là chiến công rất đáng kể của Trương Quang Đản, Nguyễn Giao, và Ngô Văn Tán (liệt sĩ), cùng quân binh thuộc quyền chỉ huy của họ (154).
Ngoài ra, có những cuộc chiến đấu tự vệ, chống ngoại xâm theo truyền thống nghìn đời của chính nhân dân các tỉnh Bắc Kì. Ở Ninh Bình, “máu chảy xuống tới mé sông” (155) . Phủ Nam Sách thuộc Hải Dương trở thành nơi tập kết nghĩa sĩ. Nguyễn Mậu Kiên, Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Bản cũng dựng cờ nghĩa chống giặc tại Nam Định (155). Nhưng sự thật lịch sử ở Bắc Kì chưa bừng sáng những tầm vóc như Trương Định, Nguyễn Trung Trực với những chiến công lẫy lừng như Nhật Tảo… Cũng chưa thấy tiếng thơ nào hào hùng hoặc bi tráng như Đồ Chiểu…
Thế rồi, thượng tuần tháng chạp Quý dậu (đầu năm 1874), Lê Tuấn và Nguyễn Tăng Doãn đệ gửi tập bản sớ ra Huế, trình bày: Dupré sắp về nước, y cũng đã cử Rheinart ra thay Philastre, mong triều đình chuẩn cho sứ thần Nguyễn Văn Tường sớm về Gia Định với Philastre để cùng sứ bộ định “hoà” ước (156). Vua Tự Đức sai Cơ mật viện mật tư cho Nguyễn Văn Tường:
“Thành Hà Nội mới lấy lại được, việc xử trí còn nhiều điều khoản, [ngươi] ở đấy là có trách nhiệm chưa làm xong. Nếu phái viên mới [Rheinart] đã đến, khoản nào đã xong, khoản nào còn phải bàn sau, hết thảy phải bàn với Hoắc Đạo Sinh [Philastre] cho ổn thoả, để khỏi sinh trở ngại khác. Tất cả việc làm ở bốn tỉnh ấy, quyền phép về ta làm hết, nước [Pháp] ấy không dự gì nữa. Về việc [số] quân [Pháp] được ở lại và người mới đến thay [:Rheinart], nên làm thế nào [thì] cùng xử cho tương đắc, phải cùng viên kinh lược và tổng đốc mới bàn nhau trù tính cho được thoả đáng, phải [thông] tư cho quan tỉnh ấy tuân theo chỉ chuẩn mọi lần [mà] làm cho khéo, rồi sau [ngươi] mới về được. Khi nào [ngươi] cùng đi tàu với Đạo sinh [Philastre] cùng về, cũng nói khéo cho viên ấy tạm ở lại Đà Nẵng, đi đường trạm về kinh, trả lại mệnh lệnh, xin lời [vua] dạy bảo, để tiện đến trong Nam cho kịp việc” (156).
Vua Tự Đức “lại nghĩ bốn tỉnh mới lấy lại được, tình của dân lương, dân đạo còn là khó xử, và việc giặc [Pháp] đặt dân gian [làm chức sắc] cũng thế, [nên nhà vua] lại mật dụ sai [Nguyễn] Văn Tường phải khéo xử, cốt được chóng yên: “Nếu các tỉnh quả đã hơi yên, quan quân [ta] ở, Tàu, Tây [rút] ra hết, hoặc [chúng còn] ở lại [số] ít, [thì] nghĩ bàn xong, mới được về kinh trả lại mệnh lệnh. Còn quan [ngụy] của giặc [Pháp], phải bảo nước [Pháp] ấy bãi [bỏ] hết mới hợp lẽ. Nếu không được thì chỉ tạm để lại một vài chức nhỏ, còn [lại] thì sẽ bỏ. Làm việc nước chỉ nêu rõ người lành, ghét bỏ kẻ ác, dựng nên thói tốt, tiếng tốt, người có tiết nghĩa phải ghi, kẻ bội nghịch phải giết. Phải theo thứ tự làm cho thoả đáng, cho hết kẻ phản trắc”” (157)
.
Việc đã gần hoàn tất, khâm sai Nguyễn Văn Tường viết tập tâu đệ gửi vào kinh đô Huế, hẹn vào khoảng cuối tháng (từ hai mươi sáu đến hai mươi bảy tháng chạp Quý dậu) là ngày về. Nhưng tình hình lương – đạo ở Bắc Kì vẫn chưa yên, Nguyễn Văn Tường còn phiền bận xử trí. Gần đây, ông lại ngã bệnh, trong cái rét buốt cuối năm xứ Bắc, nên công việc đành phải chậm lại (158). Trong lúc đó, Dupré sắp hết kì hạn ở Nam Kì, phải về nước, nên y luôn gửi thư hối thúc triều đình định ước cho xong. Tại Gia Định, Lê Tuấn từ lâu đã khá hồi phục, cùng với Nguyễn Tăng Doãn bàn định các điều khoản “hoà” ước mới, gần như đã hoàn chỉnh. Vua Tự Đức vẫn ra dụ bảo Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doãn:
“Lũ ngươi vâng mệnh ra chốn biên giới [:Nam Kì], tất cả việc hai nước giao thiệp, có thể được yên lợi. [Trẫm ] đều chuẩn cho tự ý làm việc. Gần đây lại mới cho sắc ấn toàn quyền. [Trẫm] giao phó, uỷ thác, long trọng biết là chừng nào! Điều ước mới ở trong Nam, các ngươi đã nói trước với tướng Pháp, hoặc [kí kết] ở Gia Định, hoặc đi sang Tây [:Pháp], tưởng nên khéo làm cho xong việc.
Nhưng nay bốn tỉnh, Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, vừa mới lấy lại, phải sửa sang nhiều việc. [Trẫm] hiện chuẩn cho phó sứ Nguyễn Văn Tường cùng với thống sát nước ấy là Hoắc Đạo Sinh [Philastre] đem ngay các việc phải làm, xét từng khoản, bàn giao cho phái viên mới là Lê Na [:Rheinart] [để] cùng với bọn kinh lược sứ Nguyễn Chính, tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc làm cho ổn thoả. Bất nhật thống sát nước [Pháp] ấy cùng với Nguyễn Văn Tường trở về Gia Định, tức thì cùng lũ các ngươi bàn nghị cho thoả đáng. Các ngươi nên đợi ít lâu, Nguyễn Văn Tường đến nơi, cùng nhau bàn bạc, châm chước, làm thành điều ước, tiện kịp đóng ấn. Vả lại lần này lời ước [làm] đến lần thứ hai, [thì] nên làm thế nào cho hoà hảo mãi mãi, mà tự ta có thể [được Pháp] đền bù được thiệt hại [bởi] việc gần đây. Các ngươi phải xem cơ tuỳ thế, thận trọng nghìn muôn phần. Nếu phải cùng lập thành điều ước ngay, [thì] nên đem hết ý trí, để trọng lời hẹn thề. Hoặc phải sang Tây mới cùng nhau định ước, thì gặp gỡ cơ hội, chuyển bát bớt thêm, lại nhiều dịp tốt.
Nói tóm lại là điều ước [trẫm] đã chuẩn cho làm, còn có ngăn trở trì hoãn gì mà làm xong hay không xong, đi [Pháp] hay không đi, [là] do tướng [Dupré] nước [Pháp] ấy cùng các ngươi xét rõ lợi hại thế nào mà thôi. Các ngươi nên nghĩ làm hay thôi, so với làm trước, làm sau, đằng nào hơn, mới là chu đáo.
Còn như khoản đặt khâm sứ ở quốc đô [hai nước], chiểu theo phép công đã chép, đầu mối còn nhiều, chưa biết thế nào cho phải. Các ngươi phải nên bàn với tướng [Dupré] ấy. Ở trong điều ước có nói rõ: có nên đặt; chỉ đợi cửa biển ở Bắc Kì đặt lãnh sự trước, sau [đó] một, hai năm đi lại, tình ý [hai nước] thoả hợp, [thì] khi ấy sẽ đặt lãnh sự hoặc khâm sứ ở kinh sư [:kinh đô]. Tuỳ tiện nghĩ làm” (159)
.
Ngày ba mươi Tết, tất niên năm Quý dậu, rơi đúng vào ngày 16.02.1874, chấm dứt một năm nhiều biến động, cũng đã đến. Đó là ngày thực dân Pháp trao trả thành Hà Nội. Lúc này Nguyễn Văn Tường vẫn còn ở Hà Nội, và ông đang gắng gượng ra sức làm cho xong việc, trong cơn ngã ốm vào cuối mùa đông rét mướt. Chính trong những khoảng khắc im vắng nhất, trên giường bệnh, ông thấy hiện rõ lên một Bắc Kì tan hoang trong cơn xoáy lốc của những mâu thuẫn:
1. + Việt – Pháp
2. + Lương – giáo
3. + Việt – Hoa
4. + Nam – Bắc (Đàng Trong – Đàng Ngoài).

Ngày tháng vùn vụt nhưng cũng rất đỗi lê thê trôi qua, với những con người, vụ việc, cảnh huống luôn luôn chen lẫn, đan chéo vào nhau, không lớp lang, không thứ tự, như cuộc đời vốn thế. Bỗng dưng, sau một quãng cách để hồi tưởng, phản tỉnh, những ngày tháng ấy trong biến động lớn lao, đau xót của Bắc Kì và của cả nước, lại sáng lên bốn mâu thuẫn gay gắt đó.
Phó sứ Nguyễn Văn Tường còn nhận rõ một mâu thuẫn lớn khác của giai đoạn ông đang sống và hành xử. Mâu thuẫn lớn ấy, dẫu sao, vẫn không ngoài quy luật âm – dương của vạn vật và vũ trụ, vốn tương khắc, tương tác, tương sinh.
5. + Á – Âu!
Đó là mâu thuẫn thứ năm. Năm (05) biểu hiện của quy luật âm – dương!
Nhưng thực tế là máu lửa của tham vọng thực dân, nhằm cưỡng bức, sỉ nhục, nô dịch! Phó sứ Nguyễn Văn Tường thấu hiểu, ông đang đứng trong trận lốc xoáy máu lửa ấy. Và ông thấy rõ, trước đây, chỉ là chiến tranh trong phạm vi giới hạn ở từng khu vực, châu Á Tế Á (Asie), châu Âu Ba La (Europe), châu A Phi Lị Gia (Afrique)… với cách thức của riêng của từng châu lục. Khi vó ngựa đế quốc Mông Cổ giẫm nát châu Âu, chiến tranh cũng chỉ là bạo lực – bạo lựcbóc lột – chống bóc lột một cách đơn giản.
Ngẫm lại suốt lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc, ông chưa từng thấy cuộc chiến tranh nào như như cuộc chiến tranh này. Bây giờ, chiến tranh lại biểu hiện trên khắp mọi lĩnh vực: chiến tranh vệ quốc chống xâm lược bằng súng gươm, và cả bằng văn hoá dân tộc trong việc chống lại “tả đạo” (một công cụ tuyên truyền xâm lược); chiến tranh bằng chính trị, ngoại giao, còn chiến tranh ngay cả trong thương mại…

10

Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì cũng như cả nước vừa trải qua một cái Tết Nguyên đán buồn hận với cả một nỗi đau khó lành lặn. Những âm hưởng của cuộc thất thủ trên vùng đất nghìn năm văn hiến và là nơi sinh tụ đầu tiên của phần lớn dân tộc vẫn chưa dứt. Trên dải đất bắc hữu kì, nhất là ở Nghệ – Tĩnh, địa phận cổ xưa với tên gọi là châu Hoan, châu Diễn của Tổ quốc, vẫn như càng sục sôi căm uất.
“Khi trước xảy ra việc biến loạn về An Nghiệp [Françis Garnier], các hạt Hưng Yên, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, đường sông nghẽn, thuyền buôn ít, thuế quan tấn đình bãi. Đến nay điều ước thông thương tạm thành…” (160) nhưng thật sự nhịp sống Bắc Kì chưa thể trở lại bình thường, nếu không muốn nói là còn rất căng thẳng!
Phó sứ Nguyễn Văn Tường đang mệt nhoài trong cơn bệnh cảm sốt, ngỡ đã biến thành thương hàn nhập lí. Nhưng không thể thoái thác được, ông phải gắng sức tự điều trị với sự bắt mạch, bốc thuốc, chăm sóc của các lương y. Bệnh chưa thuyên giảm, ông cũng cố giải quyết nốt những việc còn lại trên đất Bắc: thực trạng lương – giáo phục thù; việc thanh lọc, trục xuất bọn tay sai do các cố đạo và Françis Garnier đưa lên giữ các chức sắc, cỡ như ngụy tổng đốc thợ rèn “tả đạo” tên Trương, hoặc bọn Hán gian cơ hội, bất nghĩa; công tác chấn chỉnh lại guồng máy điều hành từ tổng đốc đến cai tổng…
Nhưng không thể chậm trễ hơn, sau lời dụ cuối năm của vua Tự Đức, nên phó sứ Nguyễn Văn Tường đã cùng Philastre xuống tàu thuỷ vào kinh đô Huế. Ông cũng yên tâm khi biết vào những ngày sắp tới, vua sẽ chuẩn cho bố chính sứ Bắc Ninh Phạm Thận Duật thăng thự tuần vũ Hà Nội để giúp Trần Đình Túc, bởi tổng đốc Hà – Ninh Trần Đình Túc, theo vua Tự Đức nhận định, mặc dù giỏi việc nhưng đã già yếu (161).
Chiếc tàu rẽ sóng trong mưa bụi và gió rét. Càng vào phía nam, càng đỡ rét buốt và đỡ âm u. Nắng đã lấp loáng sáng trên mặt biển biếc.
Đến Đà Nẵng, theo quy định của triều đình, tàu mới được cập bến. Cảng Sơn Trà đã rực rỡ nắng ấm mùa xuân, khiến phó sứ Nguyễn Văn Tường tươi tỉnh lên chút ít.
Hai phái đoàn Việt – Pháp lại đi đường bộ ra lại Huế, bằng kiệu và xe ngựa.
Đến kinh đô Huế, vào một ngày đầu trung tuần, nhà nhà vừa hạ nêu xong, phó sứ Nguyễn Văn Tường chỉ kịp ghé về nhà, lại ngã ra bệnh lại. Sau một ngày đêm thuốc thang, ông lai tỉnh, và lại cố ngồi dậy viết tập tâu dâng lên vua. Trong khi đó, Philastre và phái đoàn Pháp được Bộ Lễ sắp xếp trú lại tại Sứ quán (162).
Phó sứ Nguyễn Văn Tường rất cảm động khi vua Tự Đức cử người đến thăm hỏi. Ông cũng nhân đó đệ gửi tập tâu, với nội dung về tình hình và công việc ở Bắc Kì, trong đó có một ý về Philastre, rằng đó là một người Pháp rất biết điều và có lòng tốt với nước ta (162).
Vua Tự Đức cũng sai các quan Viện Cơ mật – Thương bạc, thường gọi là Viện – Bạc, như Trần Tiễn Thành, đến thăm hỏi Philastre và ban một đạo dụ khen ngợi ông ta. Tính của ông ta vốn thế, thích được những gì có thể lưu giữ làm bảo vật kỉ niệm. Nguyễn Văn Tường đã nhờ linh mục thông ngôn Nguyễn Hoằng thử dò hỏi sở thích của Philastre, và Philastre cũng thành thật muốn có một tấm lụa với nét chữ hoàng đế viết lên đó (162). Chính bức đạo dụ vừa biếu tặng Philastre đã khiến ông ta thấy không có gì quý báu hơn. Nhưng vua Tự Đức cũng còn ban cho Philastre những tặng vật được thực hiện bằng kĩ nghệ kim hoàn tinh xảo khác (162).
Phó sứ Nguyễn Văn Tường chỉ kịp viết một bản tập tâu và đề xuất khen thưởng ngoại giao thì lại ngã bệnh nặng. Không cách nào khác, ông dâng sớ xin vua Tự Đức chọn người khác thay ông làm phó sứ, để cùng Philastre vào Gia Định bàn định “hoà” ước và thương ước. Vua liền dụ bảo:
“[Bản] ước mới với sứ [thần] nước Pháp chưa định, [đó là] điều trẫm rất lấy làm lo. Ngươi làm việc sứ thần, phải mưu tính về sau… Đặc cách ban cho sâm quế ngự dụng [:của vua dùng]…” (163).
Vua Tự Đức còn xuống dụ sai thầy thuốc điều trị cho Nguyễn Văn Tường chóng khỏi, với sự ban cấp thuốc thang đầy đủ, kể cả thuốc bồi bổ: sâm Cao Ly hạng lớn, mười lăm (15) chỉ; quế Thanh Hoá hạng nhất, hạng nhì, hạng ba, mỗi thứ hai phiến (163)… Phó sứ Nguyễn Văn Tường hết sức xúc động, vì ông thừa hiểu, việc hoàng đế ban dụ sai thầy thuốc chữa bệnh cho một viên quan chức là cả một ân sũng lớn, hiếm thấy.
Nhờ vậy, sớm được hồi phục sức khoẻ, Nguyễn Văn Tường lại xuống tàu cùng Philastre vào Gia Định.
Hôm hai phái đoàn lên đường, quan Viện – Bạc tiễn chân theo lệnh vua, với lời vua gửi theo, dặn dò Philastre cố giúp cho thành hiệp ước (164)!
Lúc phó sứ Nguyễn Văn Tường lên đường vào Nam Kì rồi, vua Tự Đức lại băn khoăn về phía Bắc, liền ra sắc chỉ cho kinh lược sứ Nguyễn Chính (Chánh), bảo nên theo cách của Nguyễn Văn Tường, là khéo dùng thổ hào, thu thập thổ dõng và khi đã biết khéo thu dùng như thế, thì không lo gì không kiềm toả, chế ngự được trộm cướp và nhất là xung đột lương – giáo, hiện vẫn còn đang gay gắt, thậm chí rất gay gắt (165)…
Vào tối ngày rằm tháng giêng năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (03.03.1874), chiếc tàu thuỷ chạy bằng hơi nước mang tên D’Estrées chở phó sứ Nguyễn Văn Tường, thống sát Philastre, linh mục thông ngôn Nguyễn Hoằng cùng nhiều viên tuỳ tùng khác đến Sài Gòn (166).
Cũng trong những ngày trung tuần tháng giêng ấy (167), vua Tự Đức nhận được bản sớ của tổng đốc An – Tĩnh Tôn Thất Triệt về việc khẩn cấp: Trần Tấn, Đặng Như Mai ở Nghệ An từ lâu đã khởi xướng phong trào “Bình Tây sát tả”, nay phong trào ấy, sau sự biến thất thủ Hà Nội và thất thủ các thành tỉnh khác, đã nổ bùng dữ dội!
Vua Tự Đức liền xuống dụ:
“Về việc dân lương – dân đạo, triều đình nhiều lần dụ bảo thiết tha. Thế mà thân sĩ tỉnh Nghệ An riêng giữ [ý kiến], bàn ngang, không hiểu việc biến đổi ở đời, như bọn Tấn, Mai lấy tiếng là giết người theo đạo mà mê hoặc mọi người làm loạn. [Cho nên, quan quân] phải nên đánh giết ngay, chớ để lan thêm ra…
… Triều đình dẫu muốn khoan dung, cũng không thể được, tất đến tan cửa nhà, mất cơ nghiệp, sao bằng cùng ở yên, không sinh sự với nhau, đều thoả đời sống là bằng phẳng êm đẹp. Huống chi đều là đất của vua, đều là dân của vua, đạo giáo dù khác nhau [Nho – Thiên Chúa, lương – giáo] nhưng mạng người thì giống nhau, sao nỡ tự tàn hại nhau, tự bóc lột của cải của nhau…” (167)
.
Những ngày rằm đầu năm Giáp tuất (1874), tại Gia Định, trong khi “hoà” ước do chánh sứ Lê Tuấn, tham biện Nguyễn Tăng Doãn và Prioux khởi thảo (168), chỉ mới thành dạng bản, chưa kịp bàn định nốt để kí kết, phong trào “Bình Tây sát tả” ở Nghệ – Tĩnh đã nối lửa từ Bắc Kì, bùng lên chưa từng thấy!
Lương – giáo quả đã lao vào một phen quyết chiến máu đổ thịt rơi trên đất “Hoan, Diễn do tồn thập vạn quân” ! Vâng, Nghệ An, Hà Tĩnh vẫn còn mười vạn quân sẵn sàng chiến đấu! Và cả Thanh Hoá phía cực bắc hữu kì, Quảng Bình phía nam, vốn là hữu trực kì, cũng thật sự vào trận. Tuy nhiên, tiếc thay, đấy là cuộc chiến tranh giữa hai lực lượng nhân dân. Đấy là một cuộc nội chiến đẫm máu, lan rộng trên bốn tỉnh Bắc Miền Trung. Kẻ thù đích thực là thực dân Pháp và bọn cố đạo mang bản chất thực dân lại hầu như không một tổn thất bé nhỏ nào: không một tên nào bị thương hoặc chết!

Hết tệp 4 truyện kí thứ 7


Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 7 vào lúc 11 giờ kém 05,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ, HB.2).


TRẦN XUÂN AN


(128) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 355.

(129) Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu (QTCBTY.), (Cao Xuân Dục chủ biên; ban biên soạn gồm: Trần Đình Phong, hiệu chính, Đặng Văn Thụy, Lê Hoàn; ban biên tập gồm: Nguyễn Đức Lý, Nguyễn Tư Tái), bản dịch tiếng Việt của chính Quốc sử quán triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá, 1998, tr. 502 – 504; ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 355 – 356.

(130) NTP., sđd., 1974, tr. 219.

(131) NTP., sđd., 1974, tr. 219.

(132) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 356.

(133) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 356.

(134) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 356.

(135) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 357.

(136) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 169 – 170.

(137) Bản dịch lược ý: Dương Kinh Quốc, VN.NSKLS, tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 159 – 160. Xem nguyên văn tiếng Pháp: NTP., sđd., 1974, tr. 277 – 280.

(138) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 357.

(139) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 357 – 358.

(140) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359.

(141) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359.

(142) CXL., sđd., 2001, tr. 317.

(143) Jean Dupuis, Les Evènements du Tonkin, dẫn theo CXL., sđd., 2001, tr. 317 – 318 (lời dẫn gián tiếp và trực tiếp của GS. Trần Văn Giàu, gồm cả các câu in theo kiểu chữ đứng, được đặt trong dấu ngoặc kép, ở đoạn này).

(144) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359.

(145) Bản dịch lược ý: Dương Kinh Quốc, VN.NSKLS, tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 159 – 160. Xem nguyên văn tiếng Pháp: NTP., sđd., 1974, tr. 277 – 280. Về kết cuộc của Jean Dupuis, xem: NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 90; VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 517 – 518.

(146) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359.

(147) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 360.

(148) L.E. Louvet, Vie de mgr. Puginier, dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 82.

(149) AOM. Aix, Amiraux 11689 (32), dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. &TH., UB.KHXH.TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 237 – 238.

(150) Dẫn theo: Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường, bài “Nguyễn Văn Tường qua châu bản triều Nguyễn” của Trần Viết Ngạc, kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996, tr. 216; bài dã dẫn, tạp chí Xưa & Nay, số 100, tháng 9.2001, tr, 14 – 16 xem tiếp tr. 32.

(151) AOM. Aix, Amiraux 11689 (41), dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 238.

(152) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 361.

(153) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 63 – 68. Về sau, đến tháng mười năm Bính tí (1876), số quan thất thủ và đầu hàng này được giảm án, cho đi làm việc chuộc tội ở các quân thứ biên giới Bắc Kì. Xem danh sách ở ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 340.

(154) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 361 – 362.
(155) CXL., sđd., 2001, tr. 310 – 313.

(156) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 362 – 363.

(157) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 363.

(158) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 368.

(158) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 369 – 370.

(160) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 6.

(161) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 9.

(162) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 8.

(163) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 9.

(164) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 9.

(165) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 9 – 10.

(166) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 10; NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 485.

(167) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 10 – 11.

(168) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 482.

Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2).


TRẦN XUÂN AN


HẾT TỆP 4
(PHÂN ĐOẠN 4 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”

Xin xem tiếp TỆP 5
(Phân đoạn 5 truyện kí thứ 7)
thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II A)

Tệp 3 - Tập II
(PHÂN ĐOẠN 3, TRUYỆN KÍ THỨ 7)

Sẽ đăng trên Tạp chí điện tử Giao Điểm
số tháng 12-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm


TRẦN XUÂN AN

CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874


Truyện kí thứ bảy
(phân đoạn 3)

7

Hồi cuối tháng tám nguyệt lịch (15.10.1873), lúc Françis Garnier đến Đà Nẵng, vua Tự Đức cho Nguyễn Khoa Luận, Trần Văn Quỳnh, Nguyễn Văn Thi vào đón tiếp (74), sau đó theo tàu của y để ra Hà Nội, ngỡ là để cùng giải quyết vụ gây hấn của Jean Dupuis. Ngay chính Jean Dupuis trước đó cũng đã gửi thư từ Hà Nội vào Huế báo tin này! Không ai dám quả quyết chúng đồng lòng che giấu âm mưu không đơn giản là chỉ gây rối, mặc dù trong bức thư Dupré gửi cho triều đình Huế đã bộc lộ với lời lẽ rất xẵng: “Triều đình nước Nam không thể trì hoãn việc mở rộng [cửa] Bắc Kì và sông Hồng cho đến Vân Nam. Vì lẽ đó, đại uý Françis Garnier có lệnh ở lại Hà Nội cho đến lúc nào việc này được giải quyết xong” (75) ! Không dám quả quyết là bởi vua Tự Đức, triều đình và hoàng thân nhận thức rõ: một là, thực lực vũ khí quân ta là quá lạc hậu, quá yếu kém; hai là, lòng dân Bắc Kì chưa thật trung thành, còn bất trắc, lại lắm “tả đạo”; ba là, nạn phỉ giặc Cờ chưa dẹp xong. Do đó, triều đình Tự Đức vẫn còn mong giải quyết vụ việc bằng “hoà” nghị!
Khi đến cửa biển cuối sông Hồng, chuyện trò trên đoạn sông lên Hà Nội, lòng háo thắng của tên sĩ quan ranh con Françis Garnier được bơm lên bởi tên lái buôn liều mạng cam tâm làm bung xung là Jean Dupuis. Ngày mười bốn tháng chín ta (03.11.1873), Françis Garnier viết trong một bức thư: “Mọi người đều coi như tôi sắp thống trị xứ này, nếu tôi muốn. Tôi còn đợi xem. Trước khi lật đổ chính quyền tại đây, lẽ tất nhiên tôi đợi xem những dấu hiệu do nhân dân biểu lộ và xác nhận lời của Dupuis” (75) . Chả là Dupuis đã nói với Garnier rằng “cả xứ Bắc Kì sắp nổi loạn… nếu ông [:Garnier] ra hiệu…” (75) !
Đến Hà Nội (05.11.1873), tại quán trọ, Françis Garnier liền thông tin vào thành. Y đợi Nguyễn Tri Phương, Vũ Đường, Nguyễn Đăng Nghiễm đến đón tiếp y, nhưng thật tâm, y chờ tình huống có thể thừa cơ lúc bất ngờ để dẫn quân vào thành (76). Y ào vào Dinh Khâm mạng lúc Nguyễn Tri Phương chưa kịp mặc áo ngoài, chỉ kịp lắp bắp vài tiếng Pháp, che giấu nỗi uất hận dưới nụ cười và dăm lời mềm mỏng (77). Thái độ mở đầu của Françis Garnier đã rất ngang ngược!
Quyền suất đội Nguyễn Đăng Viên canh cửa thành nhỏ bên ngoài không báo. Các quan đầu tỉnh bảo lính ngăn lại không kịp! Tất cả đều bị giáng, cách, lưu nhiệm, riêng Nguyễn Đăng Viên bị lột hẳn chức, cho về quê (76).
Vua Tự Đức cũng vẫn cố nhẫn nại, ra dụ cho Hà Nội: sắp xếp cho Françis Garnier và quân binh của y tạm trú tại Trường thi, đồng thời vẫn khoản đãi tên thực dân ngang ngược, hỗn láo ấy (76)!
Liền trong những ngày ấy, tên quan năm Pháp (trung tá Senès) đem năm chiếc tàu đến Đồ Sơn, tỏ ý uy hiếp. Quyền tổng đốc Hải Dương Đặng Xuân Bảng uỷ phái viên đến thăm hỏi xã giao, và đồng thời tâu gấp vào kinh (78). Nhà vua sai đình thần xét nghĩ. “Bọn Trần Tiễn Thành cho là phái viên nước ấy (quan ba An Nghiệp [Françis Garnier]) đến, đã có nói phao lên rằng: “Không cùng với hắn định ngay điều ước thông thương, sợ có [xảy ra] việc nguy hiểm”. Nay tiếp tục đến nhiều thuyền, chẳng qua cùng bè lũ với chúng dùng cách ấy doạ nạt, cho điều ước chóng thành […]. Xin nên [để] do bọn quan khâm mạng thiết trách An Nghiệp, bảo [với chúng rằng:] “Phái viên quý quốc mới sang, chỉ vì việc đuổi Đô Phối (tức Đồ Phổ Nghĩa [Jean Dupuis]); nếu thuyền bọn chúng [bọn Pháp] muốn đến buôn, hãy đợi điều ước làm xong, mới có phương tiện. Phái viên quý quốc nên bảo ngay cho thuyền bọn ấy [bọn Pháp], phải theo thế mà làm. Nếu [Jean Dupuis] có dám trái [với] điều cấm, ngang ngược làm càn, phải do [chính] phái viên [Pháp] đuổi hắn, để tỏ phép công của các nước. [Như thế] hầu mới ổn thoả và được việc”. Vua theo lời” (78) .
Khác với những ngày còn ở Gia Định, bấy giờ Françis Garnier còn khuyên Dupré nên xử sự một cách ngoại giao mềm mỏng, lúc này, khi đã đặt chân lên Hà Nội, y ngang ngược đến mức hỗn láo! Không những nằng nặc đòi quan khâm phái Phan Đình Bình theo “lệnh” y, y còn ra mặt thúc bách cả quan khâm mạng bảy mươi bốn tuổi phải lập tức theo yêu cầu của y về việc mở cửa thương mại và khai thông tuyến sông Hồng (79), mặc dù Nguyễn Tri Phương chỉ nói đến việc đuổi Dupuis (80)! Tên thực dân nhãi tép này còn bắt chước Jean Dupuis cho lính xô ngã các tán lọng che sắc chỉ của vua Tự Đức, y còn sai lính xé bỏ các tờ hiểu thị của quan khâm mạng (80). Nội dung các tờ hiểu thị ấy xác định Françis Garnier không có chức trách gì ngoài việc dàn xếp vụ Dupuis và cấm dân chúng, đặc biệt là giáo dân, tiếp xúc với y. Y xem đó là cách công khai hạ nhục y (80)! Françis Garnier lại còn cho niêm yết khắp Hà Nội những bích chương với các điều khoản đơn phương đặt ra một cách hỗn xược (80)! Đúng là một tên thực dân nhãi tép cuồng bạo!
“Quan lớn Garnier, người đã được quan đô đốc thống soái Nam Kì thuộc Pháp phái ra Bắc Kì để thoả hiệp với nhà cầm quyền [Đại Nam] về việc khai thương xứ này, cho biết rằng:
1. Bắt đầu từ ngày 15.11.1873, sông Hồng sẽ được mở từ biển đến Vân Nam cho việc buôn bán;
2. Sông này chỉ được dành cho sự buôn bán của các tàu Pháp, Y Pha Nho và Trung Hoa, tức là những quốc gia có hiệp ước với Việt Nam [Đại Nam];
3. Quan thuế phải trả được định là 9% tổng giá hàng hoá chở trên tàu;
4. Đối với các tàu từ Sài Gòn đến hay đi đến Sài Gòn thì giá thuế này được bớt phân nửa;
5. Các tàu từ Vân Nam đi ngang qua cũng chỉ trả phân nửa thuế;
6. Các thương gia Tàu [Trung Hoa] hay thuộc quốc gia khác được đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp và không tuỳ thuộc thẩm quyền quan chức người Đại Nam bất cứ phương diện nào;
7. Các thương gia thuộc bất cứ quốc tịch nào, đều có thể mua đất và nhà ở Hà Nội để đặt cơ sở của họ;
8. Các sở quan thuế của người [Đại] Nam hiện có đều được bãi bỏ từ hôm nay
9. … v. v.…” (81)
.
Thái độ ngang ngược ấy của Françis Garnier vốn đã được bơm lên bởi Jean Dupuis, lại cũng do y nhận thấy người Pháp có nhiều hậu thuẫn trên đất Bắc Kì! Quả thực, cũng đã có nhiều người dân tự xưng là hậu duệ vua Lê đến gặp Françis Garnier (82), nhưng số giáo dân vẫn nhiều hơn! Những kẻ nhân cách mạt hạng, phản quốc ấy chỉ ước mong theo nỗi ước mong của Pierre Tạ Văn Phụng trước kia: “xứ Bắc Kì bảo hộ thuộc Pháp”!
Françis Garnier cũng đã liên lạc với giám mục Puginier. Tên thực dân giám mục “tả đạo” này vẫn đóng vai trò cố đạo, miệng bảo không dính đến chính trị, và sợ sẽ bị triều đình Huế lại trút hận lên bọn giáo dân đang sẵn sàng phản quốc, phục vụ theo lệnh Françis Garnier (83)! Phải thừa nhận giám mục thực dân Puginier rất khôn ngoan trong toan tính, biết nhìn trước ngó sau, mặc dù quyết tâm xâm lược không hề bao giờ thay đổi trong tim đen sau lớp áo chùng thâm! Mặt nạ của Puginier mãi về sau mới công khai rơi xuống (83)!
Françis Garnier cùng những tên đại diện các thế lực trong sự câu kết với nhau của chúng đã tổ chức tiệc tùng để trông chờ ngày quyết định. Các buổi tiệc tùng ấy có mặt giám mục Puginier, linh mục Dumoulin (?), chín (09) nhà buôn Hoa kiều, các tên sĩ quan Pháp (84). Thế là Françis Garnier đã có thêm vây cánh để máu cuồng bạo sôi réo lên trong tim đen của y!
Không thể nói khác được, Françis Garnier rõ là lên cơn cuồng bạo! Y càng cuồng bạo hơn khi nghe tin nếu chậm trễ, kéo dài ngày, sẽ bị đầu độc, thuốc độc sẽ được bỏ vào thức ăn nước uống, một hôm nào đó (85)!
“Bơm lên” và hù dọa là hai thủ thuật của bọn cáo già, đủ để đẩy Françis Garnier đi đến điểm đỉnh của cơn cuồng bạo thực dân!
Đến ngày cuối tháng chín âm (19.10.1873), Françis Garnier quyết định gửi tối hậu thư cho quan Vũ hiển Nguyễn Tri Phương (86). Thời hạn cuối là phải trả lời trước mười tám (18) giờ chiều cùng ngày. Không thể có thư trả lời trước một tối hậu thư bình thường, chứ chưa nói là đối với một thứ tối hậu thư đầy lời lẽ xấc láo đến thế! Danh tướng Nguyễn Tri Phương, trong những ngày trước, đã viết bản sớ xin vua Tự Đức cho ông trừng trị Françis Garnier hoặc cho ông từ chức (87). Không ngờ, đến giờ phút này, ông bị đặt trước tối hậu thư thách thức, ngạo mạn, lớn lối của một tên ranh con!
Sáng sớm hôm sau, mùng một tháng mười nguyệt lịch (88), năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quý dậu (1873), Françis Garnier tấn công. Sau một giờ rưỡi chiến đấu, thành Hà Nội thất thủ (88)!
Mười một ngày sau, Françis Garnier huênh hoang phúc trình vào cho Dupré (89):
“Hà Nội ngày 01.12.1873 [12.10 nguyệt lịch, Quý dậu]
Kính thưa thiếu tướng,
Tôi hân hạnh phúc trình cùng thiếu tướng những trận chiến đã đưa đến việc chiếm thành Hà Nội và những đồn luỹ trong tỉnh mà Hà Nội là thủ phủ.
Một tối hậu thư đã được gởi chiều ngày mười chín (19) cho quan tổng thống quân vụ thống lãnh Bắc Kì [Nguyễn Tri Phương]. Tôi buộc ông ta làm một tuyên ngôn nói rằng sẽ không chống bằng vũ lực đối với các nghị định thương mãi của tôi, và ông sẽ chấm dứt mọi chuẩn bị chiến tranh. Tôi không nhận được lời phúc đáp, tôi quyết định đánh thành [vào] ngày mai [ấy], lúc tảng sáng.
Năm giờ rưỡi sáng, một đoàn quân thứ nhất do ông Bain de la Coquerie, trung uý hải quân, chỉ huy, và gồm ba mươi (30) thuỷ binh và một đại bác rời căn cứ để đến đóng trước cửa Tây Nam thành.
Năm giờ bốn mươi lăm, đoàn thứ hai do ông Trentinian [cháu của đại tá Trentinian] chỉ huy và gồm ba mươi (30) thuỷ quân lục chiến, tiến về cửa Đông Nam là cửa gần trại ta nhất. Sau cùng, lúc năm giờ ba mươi (5g 30), ông Esmez cầm đầu ba mươi (30) thuỷ binh và ba đại bác cũng tiến công lên cùng hướng, theo sau là đoàn trừ bị của tàu Decrès do đại uý của tàu ấy cầm đầu. Trại quân do kĩ sư Bouillet và mười lính trấn giữ.
Ở bên sông, tàu Scorpion và tàu Espingole đã chuẩn bị pháo kích từ hôm qua và hướng cả về các cửa Tây, Bắc và Đông, nghĩa là về phía mà chúng tôi sẽ không tấn công…
Đúng sáu giờ, lúc tôi cầm đầu đoàn quân của Trentinian và đặt chân lên chiếc cầu của tiền luỹ cửa Đông Nam, thì tiếng súng của ông Bain nổ phía trái tôi và những quả đạn đầu tiên của bên tàu [Pháp] tưới vào trong thành. Địch [tức là quân Đại Nam] hoàn toàn bất ngờ. Kinh hoàng trước cuộc tấn kích nhiều mặt, họ không biết điểm bị đe dọa chính là điểm nào. Chúng tôi quét sạch những chướng ngại vật trên cầu của tiền luỹ, mà không sợ súng bắn ra. Khi các pháo thủ [Đại Nam] trên thành đến vị trí của họ, chúng tôi đã núp bên cạnh thành của cái tiền luỹ. Quân phòng thủ [Đại Nam] chỉ còn cách ném đá vào chúng tôi. Búa không thể phá cửa, tôi cho đặt một đại bác trên cầu; ba quả đạn trái phá đã mở đường cho chúng tôi. Ông Trentinian và các thuỷ quân lục chiến ùa vào trong tiền luỹ, và quân phòng thủ [Đại Nam] không còn chỗ núp, đành chạy trốn về phía bờ thành hoặc chết trôi dưới hào nước. Pháo binh của ta bắn rất gắt trên đầu tường làm quân địch [Đại Nam] cố đến quay đại bác bắn vào ta mà không làm được.
Trong lúc ấy, ông Esmez đem đoàn đại pháo lên trên cầu bắc qua hào và bắn vỡ cửa thành, dưới làn thưa đá từ trên đầu thành ném xuống. Cái cửa chắc chắn này đã đứng vững khá lâu. Lúc phá được một lối vào, tôi bèn xông vào dưới cửa tò vò, và tôi nhận thấy trước mặt tôi bọn cầm lọng che cho tướng phòng thủ [Đại Nam]. Lúc ấy tôi không ngờ đó chính là vị thống soái [Đại Nam], và do một ngẫu nhiên kì lạ, ông ta lại chọn chính cái cửa tôi đánh để làm điểm chống cự. Một loạt súng lục và súng trường quét sạch chỗ cửa thành và quân [Đại] Nam chạy tứ tán… Cùng lúc ấy một loạt kèn thổi cho tôi hay là Bain đã làm chủ được phía cửa gần đó. Anh ta không gặp sự chống cự nào phía trong tiền luỹ. Anh ta bị một loạt pháo trong thành bắn ra, nhưng không trúng ai cả.
Lập tức tôi cho Trentinian vào trong thành để bắt ông thống soái [Nguyễn Tri Phương]; và cho Hautefeuille và vài người đi lấy cửa phía Đông. Tôi lại ra lệnh cho ông Bain qua cửa Tây mà nhiều người đang chạy trốn về phía đó. Sau cùng, vì thấy nhiều quân địch [:Đại Nam] núp trong tháp cột cờ ở giữa hai cửa phía Nam, và hai tầng lầu của tháp này đầy dẫy quân phòng thủ [Đại Nam], tôi cho Esmez tấn công về phía đó và chỉ giữ bên tôi số quân trừ bị. Hai quả đại pháo đã quét sạch quân phòng thủ [Đại Nam ở] tháp cột cờ, dấu hiệu cho pháo binh ở bờ sông thôi bắn. Lúc ấy đúng sáu giờ năm mươi lăm phút (6g 55). Ông Esmez liền qua phía cửa Bắc. Phía cửa Đông, Hautefeuille chỉ có năm người đành đứng lùi lại; tôi phái đại uý Decrès với quân trừ bị qua với anh ta… Vài phút sau, cờ Pháp phấp phới trên khắp cả năm cửa của thành Hà Nội. Chúng tôi không có ai bị thương cả”.
[Kí tên:] Françis Garnier
.
Đúng ra, phía Pháp, một (01) tên bị chết, hai (02) tên bị thương; bên quân ta, tám mươi (80) người hi sinh, ba trăm (300) người chiến thương, hai ngàn (2.000) lính bị giặc Pháp bắt sống. Trong khi đó, lực lượng quân lính giặc Pháp chỉ vỏn vẹn hai trăm mười sáu (216) tên thuộc quyền Françis Garnier và khoảng chín mươi (90) tên thuộc quyền Jean Dupuis. Với quân số trên ba trăm (300), chúng mới tham chiến chỉ một trăm tám mươi (180) tên (90)! Tất nhiên, ngoài tinh thần chiến đấu vốn bao giờ cũng rất quan trọng, thì vấn đề chính ở đây, trong trận giặc Pháp tấn công thành luỹ và quân ta phản công phòng thủ này, đó là hoả lực vũ khí. Phía Pháp, hoả lực vũ khí gồm cả súng cá nhân, đại bác, đặc biệt là pháo thuyền yểm trợ. Súng thép tàu đồng Pháp đều thuộc loại tối tân của nửa sau thế kỉ mười chín (XIX). Phía ta, vũ khí vẫn còn quá lạc hậu!
Về sau, gia phả danh tướng Nguyễn Tri Phương được hậu duệ chép (91):
“Cụ cùng con là phò mã Nguyễn Lâm đốc suất quân ra phía cửa Đông Nam, vượt lên thành chống giặc. Phò mã bị một phát đạn vào đầu chết ngay. Cụ [Nguyễn Tri Phương] cũng bị thương. Binh sĩ khiêng vào dinh. Người Pháp đem thuốc vào buộc, cụ đều rứt ra, đưa đồ ăn vào cụ đều phun nhổ không nuốt. [Cụ] nói rằng: “Bây giờ ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa…””.
Để giữ trọn khí tiết, quan Vũ hiển, tước hiệu Tráng Liệt bá, lãnh Lại bộ thượng thư kiêm sung khâm mạng tuyên sát đổng sức đại thần Nguyễn Tri Phương tuyệt thực, chỉ ngậm sâm và uống nước trong. Mặc dù ông đã bị giáng xuống hàm hiệp biện đại học sĩ, lại bị cách, quân binh vẫn một mực quý trọng vị danh tướng tài cao, đức trọng, nhưng đã bị sự phát triển nhanh của kĩ thuật vũ khí Phương Tây đánh bại. Sau một tháng tròn, đến ngày mùng một tháng mười một nguyệt lịch (20.12.1873), Nguyễn Tri Phương trút hơi thở cuối cùng.
Thự tổng đốc Hà – Ninh Bùi Thức Kiên, án sát Hà Nội Tôn Thất Trắc (Thiệp) trốn thoát sau khi thành mất. Hai viên quan này trú ẩn ở phía bắc thành, tại nhà tên thư lại Tô Phái (xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì). Nhưng tên cai tổng Đức phản bội, bắt Bùi Thức Kiên đem nộp cho giặc Pháp để lãnh một trăm quan tiền thưởng ô nhục (92)!
Bọn Pháp còn bắt bốn viên quan lớn, khâm phái và đầu tỉnh, chở vào Gia Định, toan đưa về Pháp để dâng công (92)!
Từ Huế, nghe tin, vua Tự Đức bảo: “Trước đây, tướng Pháp [Dupré] phái thuyền [ra Bắc], vì tình giao hiếu [mà] đến, ta cũng không tính chúng giả dối, [nên] cho đến đậu ở tỉnh thành Hà Nội, để tỏ [sự] đối đãi khoan hậu; không ngờ phái viên [Pháp, Françis Garnier] ấy giảo quyệt sinh sự, rất là quái ngạc. Trong [vụ việc] đó, không khỏi [do] tướng ấy có ý bảo ban [:bàn mưu tính kế trước cho Françis Garnier]”. “[Nhà vua] liền sai Thương bạc viết thư báo cho nước Pháp biết, và [thông] tư cho sứ thần (hiện ở Gia Định) phải khéo giảng giải, cốt cho tướng [Dupré] ấy sức bảo [:ra lệnh cho] An Nghiệp [:Françis Garnier] trao trả tỉnh thành Hà Nội, mới tiện định điều ước” (93) .
Mặt khác, vua Tự Đức liền cách chức các quan thất thủ và đầu hàng, bổ nhiệm một loạt quan chức mới cho Hà Nội: Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Đặng Văn Huấn, Trương Gia Hội, Phan Đề, Hoàng Đôn Điển, Nguyễn Đức Thực (94). Trương Gia Hội được lệnh đưa cả hai viên cố đạo Pháp ở nhà thờ Kim Long (Huế), gồm giám mục Bình (Sohier) và linh mục Đăng (Dangelzer), đến Thanh Hoá, rồi cùng ra Hà Nội (94). Triều đình thừa biết giám mục thực dân Bình (Sohier) vừa đi dự Công đồng Vatican tại Toà thánh La Mã (Rome), trong hai năm Kỉ tị và Canh ngọ (1869 – 1870) (95)!…
Về tổ chức guồng máy cai trị, Françis Garnier, tai quái thay, y cũng thế! Tên thực dân nhãi nhép này đã cất đặt hàng loạt tên “tả đạo”, Hán gian (Hoa kiều…), Việt gian, kể cả bọn cơ hội làm quan chức tay sai cho y (96)! Françis Garnier rất xảo trá, biết cách lợi dụng chủ trương “hoà” nghị của triều đình Tự Đức. Y viết thư cho các quan đầu tỉnh ở Nam Định, Ninh Bình với nội dung “tâm lí chiến”. “Các tỉnh Nam Định, Ninh Bình tâu rằng: An Nghiệp đưa thư nói, tên ấy không phải có lòng chiếm lấy thành trì, [mà] vẫn muốn giữ hoà [!] ước trước; chỉ vì các viên sai đi trước [như Jean Dupuis, Senès…] làm việc không khéo, nên mới thế; xin chọn quan đến làm việc; tên ấy tức [khắc] đem tỉnh thành trao trả, [rồi] cùng định điều ước về việc buôn [thương mại]” (97).
“Vua bảo rằng: “Chúng rất giảo trá. [Chúng] đã chiếm đất bên trong của ta, đã nói là nộp lại thành, bàn điều ước; [trẫm xét thấy cũng] vẫn chưa đủ tin. Nhưng nay muốn bớt việc, yên dân, nhân cơ hội [ấy, mà] châm chước đối phó, cũng không hại gì”. [Vua] chuẩn cho đình thần chọn cử viên nào có tài năng, đặt làm quan tỉnh để sung làm việc, nhưng đều cho thăng trật để tỏ ý khuyến khích” (98)
.
Nhưng bọn Françis Garnier đâu chỉ dừng lại đấy! Quân Pháp lại bức chiếm phủ Lý Nhân (26.11.1873), huyện Hoài Đức, huyện Gia Lâm. Do đó, triều đình điều động một loạt quân thứ tiến ra và kéo về quanh Hà Nội để trấn áp, với các quan chỉ huy: Lê Thập, Chu Đình Kế, Hồ Uy (Oai), Nguyễn Chính (99)…
Sau khi Hà Nội thất thủ, vài phủ huyện gần đấy bị bức chiếm, thì một loạt thành lũy thủ phủ các tỉnh lân cận cũng liên tiếp đầu hàng và bị đánh chiếm.
Trước hết là Hưng Yên (23.11.1973) (100). Bọn Pháp đưa ra ba khoản, nếu bố chính sứ lãnh tuần phủ Nguyễn Đức Đạt, lãnh án sát Tôn Thất Phiên [Phan] tuân theo, sẽ ổn: một là, triệt bỏ trạm gác cửa quan (cửa vào tỉnh), bến đò; hai là, nhổ cọc đóng rào ở cửa sông; ba là, niêm yết điều ước thương mại do chúng soạn sẵn. Quan tỉnh Hưng Yên trả lời qua quýt như thể đồng thuận hoặc để hoãn binh. Bọn Pháp bỏ đi (100).
Bắc Ninh, Thái Nguyên cũng đầu hàng (101)…
Ngày mười bốn tháng mười nguyệt lịch (03.12.1873), quan tỉnh Hải Dương (102) bảo bọn Pháp do Trentinian chỉ huy: Chờ lệnh triều đình. Chúng liền tấn công. Sau một hôm chiến đấu, thành mất (04.12.1873)! Lê Hữu Thường, Đặng Xuân Bảng, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Đại trốn thoát ra đóng ở các huyện Gia Lộc, Cẩm Giàng (102).
Ngày mười sáu Nam lịch (05.12.1873), tên giặc Pháp Hautefeuille chỉ huy tàu chiến đến Ninh Bình (103). Tuần phủ Nguyễn Thứ ra khỏi thành đón tiếp! Bọn Pháp dắt tay tuần phủ vào thành (103)! Quân lính quỳ hai bên đường khi Pháp đi qua (104). Chúng chỉ gồm vỏn vẹn một (01) thiếu uý và bảy (07) tên quân! Vào thành, chúng nổ súng. Quân ta tan vỡ (103). Đây là một vụ đầu hàng nhục nhã nhất, bi hài và thê thảm nhất! Tên linh mục Trần Lục, thường gọi là cha Sáu, bộc lộ rõ bản chất tay sai, chỉ điểm đốn mạt. Đồng bọn với Trần Lục còn có các tên cố đạo Tây dương khác (104).
Trong tình hình đó, các cung đường trạm Nam – Bắc bị giặc Pháp và “tả đạo” chận phá, đón đường cướp ống công văn, làm ách tắc liên lạc. Ngựa lính trạm đến Thanh Hoá là phải chạy đường vòng, nẻo tắt (105).
Chiếm xong Ninh Bình, giặc Pháp chạy tàu chiến đến Nam Định (08.12.1873) (106). Hộ đốc Nguyễn Hiên phái lãnh binh Nguyễn Văn Lợi, thương biện Phạm Văn Nghị đón đánh ở đồn Độc Bộ. Nhưng rất tiếc, quân ta thất bại, phải rút. Quan quân tạm đóng tại các huyện Phong Doanh, Ý Yên. Đến sáng sớm ngày hai mươi mốt (10.12.1873), giặc Pháp chạy tàu chiến trên sông Vị Hoàng, bắn dữ dội vào thành, cửa đông thành vỡ. Thành Nam Định cũng thất thủ (106)! Giặc Pháp chiếm lấy thành ấy. Trong việc tên Harmand đánh chiếm được Nam Định, có sự toa rập đắc lực của cố đạo Paulus Trịnh, một kẻ nuôi tham vọng “phù Lê” (107)…
Như vậy, chỉ có ba tỉnh thành đã dũng cảm chiến đấu phản công, mặc dù bị thất thủ: Hà Nội, Hải Dương, Nam Định. Riêng Ninh Bình đầu hàng giặc là một nỗi ô nhục lớn. Đó là chưa kể Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, ba tỉnh này, chua xót thay, cũng ô nhục không kém gì!…
Vua Tự Đức liền mật sai Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết chọn một ngàn (1.000) quân, kéo về Từ Sơn, một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, cùng với tán lí Vũ Huy Thụy, tán tương Trương Quang Đản phối hợp canh giữ nghiêm ngặt. Hoàng Tá Viêm được kiêm sung tiết chế Bắc Kì quân vụ, đổng suất các tỉnh (108). Trần Đình Túc được giao nhiệm vụ thương thuyết, phải làm thế nào khiến bọn Françis Garnier rút quân (108). Vua Tự Đức mật dụ: “Cố nhiên [chúng rút] là tốt; tất bất đắc dĩ phải dùng đến [việc] đánh, thì cho [Hoàng] Tá Viêm điệu ngay quan quân các đạo cùng đánh” (108) .
Quan quân đang hành quân ra, ở Ninh Bình đường bị nghẽn! Ngẫu nhiên, Trần Đình Túc lại bị bệnh. Nguyễn Chính (Chánh), tả tham tri Bộ Lại, mới được thực thụ thượng thư Bộ Binh, người Bình Dương (Nam Kì), liền thay Trần Đình Túc, đổi làm thự tổng đốc Hà [Nội] – [Bắc] Ninh sung làm khâm sai phỏng định thương ước toàn quyền đại thần. Trần Đình Túc chỉ giữ chức tuần phủ Hà Nội, Nguyễn Trọng Hợp cũng chỉ chuyển làm bố chính sứ Nam Định.
“Vua lại bảo quan Cơ mật và Thương bạc rằng: “Thư của ta gửi đã lâu, tướng nước [Pháp] ấy điềm nhiên, [mà] sứ thần [ta tại Gia Định] cũng không báo [ra], [trẫm] rất là để ý mong. Nên viết thư ngay, phái quan mang đi, hội đồng với sứ thần [Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn] đến trách ngay trước mặt tướng [Dupré] ấy”. Quan Thương bạc đang nghĩ bản thảo, tiến [dâng] lên [vua], đình thần tâu rằng: “Tướng nước ấy từ khi sang [Gia Định] đến giờ, thường đem chức toàn quyền [đại thần bàn định điều ước] yêu cầu ta, [đó] là muốn chóng thành hoà ước, mà ta không chịu theo như lời xin vội. (Nguyên ta cố yêu cầu [Pháp] trao trả ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, hoặc một, hai tỉnh mới chịu định hoà ước, cho nên [ta] chưa phát giao [cho sứ bộ ta tại Gia Định] sắc và ấn toàn quyền). Cho nên, [bọn Pháp] bề ngoài làm ra lời nói nhún để khoản tiếp ta, bề trong sinh sự để quấy nhiễu ta. Nay [ta] muốn dẹp sự bạo động của An Nghiệp [:Françis Garnier], giải [toả] việc cấp bách ở Bắc Kì, không gì bằng theo ngay ẩn tình của tướng Du Bi Lê [:Dupré], thuận làm cho xong, ngõ hầu được việc nhanh chóng.
Vua cho lời tâu là phải, bèn phát giao sắc, ấn toàn quyền đại thần, chuẩn cho sứ thần Lê Tuấn làm toàn quyền, Nguyễn Văn Tường làm phó, cho được cùng tướng [Dupré] ấy định hoà ước. Sau, sắc [và] ấn phát đến Gia Định. Tướng nước [Pháp] ấy nghe tin, lập tức đến mừng [xã giao]. Sứ thần [ta] nhân [dịp đó] cùng tướng [Dupré] ấy thương thuyết. [Sứ thần ta] bảo rằng: “Hoà ước mới nay có thể định được, nhưng hiện nay việc ở Bắc Kì quyết liệt, xin xử trí giúp cho xong sớm, [sau đó] định ước mới tốt”. Tướng nước [Pháp] ấy chắc là [một khi] đã được [vua Tự Đức chấp nhận] người toàn quyền, tất có thể định được hoà ước. [Y] bèn viết thư sức [:ra lệnh] ngay cho An Nghiệp [:Françis Garnier] phải rút, để cho quan ta vào thành làm việc. (Thư có hai bản, một bản phái tàu thuỷ đệ giao, một bản phát đi đường bộ, hiện giao cho Nguyễn Văn Tường mang về tâu vua biết rồi phát sau).
Lại bàn cho Nguyễn Văn Tường kèm dẫn thống sát là Hoắc Đạo Sinh (có tên nữa là Phi Lặc [:Philastre]) [cùng] đi tàu thuỷ hộ tống bốn viên phải [giặc Pháp] bắt ở Hà Nội [mươi hôm] trước mà nước Pháp phái chở về [Gia Định], giao trả lại.
Thuyền đến Đà Nẵng, [phái đoàn hai bên] lên đi đường bộ về kinh [đô Huế].
[Từ Đà Nẵng,] Phan Đình Bình về [kinh bằng ngựa trạm] trước, tâu rằng: “Tôi theo sứ thần [Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Tăng Doãn] đến biện thuyết với tướng nước Pháp; tướng [Dupré] ấy đã thuận nghe, sức [:ra lệnh] ngay cho An Nghiệp giao trả thành tỉnh Hà Nội. Đến khi xuống tàu, lại được tin ba tỉnh [mất thêm], báo tiếp [vào], Nguyễn Văn Tường lại nói với thống sát Hoắc Đạo Sinh [:Philastre], yêu cầu viên [Philastre] ấy viết thư riêng bảo An Nghiệp phải theo lệnh tướng [Dupré] đem cả bốn (04) tỉnh [Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định] giao trả một thể. Thư của tướng nước [Pháp] ấy và thư của viên thống sát [Philastre] ấy hiện mang về, đợi phái.
Khi Hoắc Đạo Sinh [:Philastre] đến kinh [đô Huế], vua chuẩn cho yên nghỉ ở Sứ quán. [Vua lại] sai bọn Lê Bá Thận, Nguyễn Hữu Lập khoản tiếp, an ủi. Hoắc Đạo Sinh [:Philastre] vui mừng nói rằng: “Được triều đình khoản đãi trọng thể như thế, cảm tạ không biết chừng nào!”” (110)
.
Như thế là phó sứ Nguyễn Văn Tường và thống sát Pháp Philastre đã về đến Huế.
Lúc này, với chức năng khoản tiếp sứ giả Pháp, Lê Bá Thận và các quan đã thuyết phục Philastre: Philastre nên cùng Nguyễn Văn Tường ra Bắc Kì giải quyết tại chỗ việc trao trả bốn tỉnh vừa bị Garnier đánh chiếm, sau đó mới có điều kiện thuận lợi để vào lại Gia Định định “hoà” ước (111). Philastre nói, Philastre chỉ có lệnh ra đến Huế rồi vào để định “hoà” ước, và Philastre sợ viên thuyền trưởng đang ở Đà Nẵng không chịu ra Bắc, vì viên thuyền trưởng ấy cũng không có lệnh ra Bắc như thế. Nhưng các quan ta thuyết phục mãi, Philastre bèn đồng thuận. Thư của hai bên viết gửi vào Đà Nẵng cho viên thuyền trưởng, y nhận được, đọc xong, cũng thuận theo như đề nghị (111).
Vua Tự Đức những muốn cho Phan Đình Bình cùng phái đoàn hai bên ra Bắc Kì, vì trước khi Hà Nội thất thủ và Phan Đình Bình bị bắt vào Gia Định, ông vốn là khâm sai đại thần, trợ giúp cho khâm mạng đại thần Nguyễn Tri Phương. Phó sứ Nguyễn Văn Tường thưa: Khi còn ở tại Gia Định, có nghe bọn quan Pháp nói, Françis Garnier vốn ngờ Phan Đình Bình, lúc Phan Đình Bình bị bắt vào ở Gia Định, Phan Đình Bình đã trách Françis Garnier, chỉ rõ “chỗ kém [cỏi]” của hắn, ngay trước mặt Dupré, nên tướng Pháp Dupré bảo Françis Garnier phải rút khỏi Bắc Kì. Dẫu sao, khi đã ngờ ghét nhau, rất khó trao đổi. Đã thế, nếu lần này Phan Đình Bình cùng đi, thì sợ rằng Françis Garnier gây thêm trở ngại. Vua Tự Đức cho là phải (112).
Phan Đình Bình vốn rất biết ơn Nguyễn Văn Tường, lúc cùng các quan Hà Nội khác bị bắt vào Gia Định, nhờ “sứ thần Nguyễn Văn Tường hết sức cứu gỡ được khỏi” (113) bị Pháp chở về nước Pháp. Nay một lần nữa, Phan Đình Bình thoát nạn, khỏi bị khiển trách không làm trọn chức năng khâm sai, và trong thời gian bị giặc bắt, vẫn giữ được khí tiết, dám tranh biện về bọn quan giặc với tướng giặc… Mới cách đây mấy hôm, khi tàu thuỷ vừa cập bến Đà Nẵng, Phan Đình Bình đã khôn ngoan tranh thủ phi ngựa trạm về kinh đô Huế, tâu trước với ý báo công, nhằm tránh bớt sự giáng phạt, Nguyễn Văn Tường cũng thông cảm cho ông ta…
Vua chuẩn cho phó sứ Nguyễn Văn Tường sung làm khâm sai đại thần cùng với Philastre ra Hà Nội (112). Ngày mùng một tháng mười một nguyệt lịch (20.12.1873), phái đoàn hai bên vào Đà Nẵng để lên tàu ra Bắc (112). Phó sứ Nguyễn Văn Tường và mọi người vẫn chưa kịp hay Tráng Liệt bá Nguyễn Tri Phương đã qua đời vào đúng ngày hôm ấy.
Vụ gây biến ở Bắc Kì, do Jean Dupuis và Françis Garnier cố tình tạo ra, là vốn theo kế hoạch của bọn chóp bu tại nước Pháp và của nhiều đời thống đốc Pháp tại Gia Định, từ De la Grandière đến Dupré. Nhưng vụ gây biến ấy, nó không ngừng tại đó một cách êm xuôi, khoái trá đối với bọn thực dân.
Chiến bại, ta làm sao đàm phán thắng lợi hoặc ít ra không đến nỗi quá bị ép chế? Phải buộc bọn Pháp ngoa ngạnh sáng mắt ra, phải trả nợ với giá chúng đã vay!

8

Cuối trung tuần tháng mười nguyệt lịch, ngay sau khi Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định lần lượt rơi vào tay giặc Pháp, Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết đã được mật dụ kéo quân về trung châu Bắc Kì. Trong tình huống hai bên, Pháp và Đại Nam, đều bị bó buộc bởi “hoà” ước Nhâm tuất 1862, Pháp sử dụng tên lái súng phi chính phủ Jean Dupuis để gây hấn, ta không thể không sử dụng Lưu Vĩnh Phúc, một tên người Hoa vốn là giặc Cờ đen đã quy phục, nay chiến đấu như một hiệp sĩ cũng thuộc loại phi chính phủ để đối trọng. Lưu Vĩnh Phúc cũng thực tâm quyết chiến đấu để trả ơn chiêu phủ với triều đình Đại Nam, mà người trực tiếp ban ơn cho ông ta là Nguyễn Huy Kỷ, Trần Doãn Đạt và các tướng tá các quân thứ, Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương… Tin Nguyễn Tri Phương đang tuyệt thực để giữ khí tiết một danh tướng trong sự giam giữ của giặc Pháp khiến quan binh đều xúc động, Lưu Vĩnh Phúc cũng rất đỗi cảm phục. Và không thể nhẫn nhục, cam đành bại trận, thất thủ đến mức tổn hại cho việc đàm phán “hoà” ước mới và thương ước đang hình thành. Do đó, phải chiến, phải dằn mặt bọn Françis Garnier và Jean Dupuis!
Lưu Vĩnh Phúc, trước đây mươi hôm, được mật lệnh kéo quân về đóng tại xã Hương Canh, thuộc huyện Từ Liêm. Đầu tháng mười một nguyệt lịch này, ông tiến quân đến xã An Quyết, giáp cửa ô phía tây thành Hà Nội (114).
Françis Garnier đang say sưa trong chiến thắng. Hôm qua, danh tướng Đại Nam, người mới bị chính y đánh bại, vừa trút hơi thở cuối cùng, y càng thấy đời sĩ quan thực dân của y thêm danh giá! Sáng chủ nhật này, 21.12.1873, Françis Garnier vừa đi dự thánh lễ mi-sa do giám mục Puginier cử hành xong, lòng khoan khoái lạ lùng.
Françis Garnier đi về phía dinh cơ của các quan Đại Nam mới được cử tới thương thuyết với y. Y thấy mình trở nên quan trọng hẳn lên, mặc dù quân hàm y mang trên ve áo chỉ là quan ba (đại uý). Y thấy các đại thần hàm tước rất cao và khá cao như Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Gia Hội (115) trở nên bé nhỏ tội nghiệp hẳn đi. Françis Garnier mỉm cười, thấm hiểu giá trị của sức mạnh vũ khí! Vũ Khí, ấy là tất cả! Mọi giá trị tinh thần khác, với y, lúc này, đều vô nghĩa và láo toét!
Các quan Đại Nam đang miễn cưỡng phá lệ đứng dậy đón tiếp y.
Françis Garnier ngồi xuống, rút từ cặp xách tay bản thương ước do chính tay y soạn thảo và đã niêm yết bản sao ở hầu hết các tỉnh Bắc Kì này. Trong các bản niêm yết ấy, Françis Garnier không ngượng ngùng tự xưng mình là Le grand mandarin Garnier! Quan lớn Garnier! Quan đại thần Garnier! Rất hẳn hoi!
Đang cùng bàn luận vài điểm, mọi người đều ngạc nhiên khi có một tên lính Pháp vội vã chạy vào thưa với Françis Garnier, giọng căm tức:
- Thưa đại uý, có một bọn người Hoa đến khiêu khích, nhục mạ chúng ta và cả nước Đại Pháp quang vinh!
- Mày nói sao? Có điên không đấy? – Françis Garnier phẫn nộ trong ngơ ngẩn, kinh ngạc –.
- Vâng, thật như vậy, bọn chúng nguyền rủa cả Tổ quốc Đại Pháp của chúng ta là đất nước của bọn ăn cướp. Chúng kêu cả tên đại uý để chửi. – Tên lính Pháp hơi ấp úng, không dám nhắc lại một điều phạm thượng đến mức khủng khiếp nhất –. Vâng, chúng còn… chúng còn…
Françis Garnier đứng bật dậy, mặt vốn trắng bạch, bỗng rần đỏ như tôm luộc. Quên cả phép lịch sự tối thiểu, y chụp ngay cổ áo tên lính:
- Nói ngay! Chúng còn làm gì?
Tên lính Pháp vốn xanh lè mắt lại càng xanh lè hơn:
- Chúng trói tên lính gác của ta,… kéo cờ Tổ quốc Pháp xuống, … giẫm chân lên và khạc nhổ vào lá cờ tam tài ấy!
Bộc lộ rõ bản chất lưu manh của một tên sĩ quan trẻ không đến nỗi vô học, Françis Garnier văng tục rất bẩn, lao ngay ra cửa, quên phắt cả một câu chào những vị quan Đại Nam và đồng bọn y, trong đó có giám mục Sohier (Bình), linh mục Dangelzer (Đăng), đang hiện diện ở tiền sảnh.
Trần Đình Túc liền nói với theo:
- Tất nhiên đó không phải là quân của chúng tôi, mà chỉ là bọn côn đồ người Khách!
Sohier dịch nhanh ra tiếng Pháp, và tin chắc Françis Garnier đang chạy vội cũng kịp nghe rõ.
Bỗng những quả đạn pháo rơi xuống trên sân! Thế là bọn này đánh thành sao? - Françis Garnier chợt nghĩ –. Y lập tức nhảy lên thành quan sát. Đằng xa, phía cửa Tây Nam, Françis Garnier thấy một toán quân lố nhố đang vây quanh mấy khẩu thần công vác vai. Y nâng ống nhòm, thấy rõ đó là những người Tàu dưới lá cờ màu đen tuyền.
Françis Garnier ra lệnh nả đại bác. Súng của y sử dụng khá chính xác. Toán quân Cờ đen thối lui, vác súng tìm chỗ núp.
- “Ta không thể nào để một địch quân như vậy ở cách thành chỉ một ngàn thước” (115) . – Françis Garnier nói –.
Françis Garnier ra lệnh cho mấy sĩ quan bên cạnh và một tiểu đội theo y ra mở cửa thành. Toán giặc Pháp này quyết tâm truy kích quân Cờ đen. Y chia quân thành bốn nhóm: 3 tên kéo súng nặng đi sau cùng, còn lại chín (09) tên, chia làm ba (03) nhóm, nhóm Françis Garnier phóng ngựa (114) đi giữa. Kéo quân đi khỏi thành khoảng một ngàn rưỡi (1.500) mét, khi đến trước cái đập tại Ô Cầu Giấy, ngựa Françis Garnier vấp chân, y té ngã. Quân Cờ đen đang mai phục, thấy dịp may đã đến, liền vượt bờ đập trèo qua, chĩa súng bắn. Hai (02) tên lính Pháp chết ngay tại chỗ, hai (02) tên khác bị thương, nằm lăn lộn trên đất. Garnier cũng đã kịp rút súng lục bắn sạch sáu viên đạn. Nhưng chưa kịp thay băng đạn mới, những lưỡi đao sáng quắc đã vung tới, chém lên mình tên nhãi nhép thực dân những nhát đầy căm uất (114) (116).
- Cắt lấy đầu, mang đi! Thế là đủ cho chúng biết lễ độ! Rút! – Lưu Vĩnh Phúc nói –.
Không ai khác, chính Lưu Vĩnh Phúc đưa một nhát rất ngọt ngang chiếc cổ đầy tàn nhang của Françis Garnier, và túm lấy mái tóc vàng hoe của hắn, nhấc lên, nhảy phóc lên lưng ngựa, phóng đi. Toán quân vác súng, lên ngựa, chạy theo.
Tên chuẩn uý Balny đang chạy tới với nhóm lính Pháp của hắn, ngơ ngẩn nhìn cái xác không đầu của Françis Garnier và mấy cái xác đồng bọn bên cạnh. Balny không ngờ Lưu Vĩnh Phúc vẫn còn cho quân mai phục, bởi ông biết thế nào bọn Pháp cũng sẽ đến nhặt xác tên chủ tướng quan ba tép riu Françis Garnier. Những phát súng của quân Cờ đen bắn thật chính xác ở cự li gần, tiếp sau đó là những lưỡi đại đao ngời màu thép trắng. Trọn nhóm Balny rụng xuống không sót một tên (116).
Năm chiếc đầu giặc bị chém: một (01) quan ba (Françis Garnier), hai (02) quan một (Balny…), hai (02) tên khác không mang quân hàm (114).
Cả Hà Nội và các tỉnh lân cận bị quân của Françis Garnier đánh chiếm đều truyền tin chiến thắng ấy đi, với sức mạnh ngầm. Đối với bọn Pháp và “tả đạo”, nhất là những tên cơ hội mới ra mặt làm tay sai cho Pháp, tin ấy như địa chấn, làm rúng động chúng đến tận tim đen. Bọn Hán gian (Hoa kiều) mới hôm đầu tháng mười một nguyệt lịch, Quý dậu (1873), còn hãnh tiến với chức quan tay sai do Françis Garnier giao cho, bấy giờ đã toan gây biến khi thấy Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Gia Hội, Hoàng Đôn Điển, Sohier, Dangelzer đến gặp Françis Garnier để thương thuyết (117), lúc này lại run rẩy với mức độ không kém bọn dân “tả đạo”. Số lượng dân Bắc Kì, cả lương lẫn giáo, cam tâm hoặc nhiệt tình làm tay sai cho Françis Garnier lên đến con số kinh hoàng: một vạn hai (12.000) đến một vạn tư (14.000) tên “lính bản xứ” (118)! Trong lực lượng Việt gian, phản quốc đó, tất nhiên giáo dân “tả đạo” vẫn chiếm tuyệt đại đa số, và một số không ít khác vốn là những kẻ bất mãn, như Hồ Văn Vạn, sử dụng chiêu bài phù Lê (119)!
Françis Garnier bị hạ sát, sự thể ấy khiến bọn quan lính thực dân Pháp mất khí phách, căm thẹn, nhưng vẫn cứ ngoan cố, chỉ một mực đòi định ngay thương ước như cũ. Một tên quan hai được chúng tự bầu lên thay Françis Garnier. Tên này mặc dù tim đập chân run, cũng cố trương gân cổ khẳng định chúng vẫn không nao núng. Y bảo: định thương ước xong mới giao trả các tỉnh (120).
Hay tin, vua Tự Đức cho rằng “đoàn quân của họ Lưu nhử giết được An Nghiệp [Françis Garnier] chỉ do mưu kế nhất thời. Nếu đường đường chính chính cùng nhau chọi được, tưởng cũng khó giữ lâu. Hiện nay việc thương thuyết đã gần có đầu mối. Nói chung xử trí toàn cục, tất không chỉ dựa vào đoàn quân ấy [mà] xong việc được. Nên sai về chặn ở thượng du là ổn” (121). “[Nhà vua] bèn xuống dụ bảo Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết rằng: “Đương lúc có việc này, lại biết cổ động cho quân đội hăng hái, giương thanh thế cho quân địch phải sợ, đại cục nhân đấy mà thoả thuận, thực rất vui mừng…”” (121) .
Nhưng lúc sắc dụ chưa ra đến, Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết cũng chưa rút quân. Họ trả lời các quan trong nhóm Trần Đình Túc: “Tướng ở ngoài chỉ biết lo đánh giặc. Nếu quả có dụ chuẩn cho giảng giải [thương thuyết], nên phái viên [quan] đi đến quân thứ bảo cho biết rõ, mới dám cậy tin” (122) . Nhóm Trần Đình Túc phải đến ngay, trực tiếp bàn bạc, Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết mới ra lệnh đóng quân không động tĩnh, với hạn định chỉ bất động tĩnh trong ba ngày.
Bọn Pháp tại Hà Nội vẫn khăng khăng mặc cả các khoản “hoà” ước mới, trong đó có một điều: “nước [Pháp] ấy đã đặt quan lại [do Pháp chọn], [triều đình nước Đại Nam] vẫn để cho làm việc, không được bãi bỏ” (123)!
Tên thực dân cáo già Dupré tại Gia Định hay tin Françis Garnier chết, liền cử Esmez ra thay (123).
Hai bên lại tiếp tục bàn định, ngay cả vào ngày lễ Giáng sinh của Thiên Chúa giáo (25.12.1873 [06.11, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quý dậu] (124)).
Trần Đình Túc lại được chuẩn làm khâm sai phỏng định thương ước toàn quyền đại thần (125). Quan họ Trần (người Quảng Trị) này với Nguyễn Trọng Hợp (người Hà Nội) sẽ cùng với khâm sai đại thần Nguyễn Văn Tường định điều ước thông thương. Nguyễn Chính (Chánh) lại được trả chức, và được sung làm Bắc Kì kinh lược sứ, nhưng vẫn ở lại Thanh Hoá lo việc trấn áp bọn xuẩn động (125).
Ngay sau vụ hạ sát Françis Garnier, tình hình vẫn chưa yên. Giặc biển Tàu Ô lại chiếm đánh Hải Dương, nhưng bị quân ta đánh tan (126). Quân gian theo “tả đạo” lại lấy cướp đồ thờ ở đền Sùng Sơn (thuộc núi Tam Điệp, Thanh Hoá) để khiêu khích (127)!
Trong những ngày đó, phó sứ Nguyễn Văn Tường và thống sát Philastre cùng hai đoàn tuỳ tùng đang từ Đà Nẵng đi tàu thuỷ ra Bắc Kì, trên chiếc Đát Tờ Gi (D’Estrées) (128).

Hết tệp 3 truyện kí thứ 7


Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 7 vào lúc 11 giờ kém 05,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ, HB.2).


TRẦN XUÂN AN


(74) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 328.

(75) Thư Françis Garnier, trong cuốn: Françis Garnier l’assaut des Fleuves của Roger Vercel, dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 186 – 187.

(76) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 329.

(77) Thư Françis Garnier, trong cuốn: Françis Garnier l’assaut des Fleuves của Roger Vercel, dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 187 – 188.

(78) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 330 – 331.

(79) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336.

(80) NTP., sđd., 1974, tr. 179.

(81) NTP., sđd., 1974, tr. 192 – 193.

(82) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 520 – 521.

(83) NTP., sđd., 1974, tr. 190 – 191; L.E. Louvet, Vie de mgr. Puginier, dẫn theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 82.

(84) CXL., sđd., 2001, tr. 302.

(85) NTP., sđd., 1974, tr. 193.

(86) NTP., sđd., 1974, tr. 194 – 195.

(87) Thư Françis Garnier, trong cuốn: Françis Garnier l’assaut des Fleuves của Roger Vercel, dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 87.

(88) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336.

(89) NTP., sđd., 1974, tr. 210 – 212.

(90) NTP., sđd., 1974, tr. 197, 201; CXL., sđd., 2001, tr. 304.

(91) NTP., sđd., 1974, tr. 200; ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 349.

(92) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336.

(93) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336 – 337.

(94) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 337 – 338.

(95) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 480.

(96) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 337, 339.

(97) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 337.

(98) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 338.

(99) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 338 – 339.

(100) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 339. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 515: “Thành Hà Nội thất thủ rồi, quan ta thì trốn tránh đi cả, giặc cướp lại nổi lên. Đại uý Françis Garnier lại cho những người về theo với mình đi làm quan các nơi để chống với quan triều, rồi lại sai người đi đánh lấy tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương”.

(101) NTP., sđd., 1974, tr. 203.

(102) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 339 – 340; CXL., sđd., 2001, tr. 311 – 312. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 521: “Ở mạn Hải Dương và Quảng Yên thì vẫn có những người mạo xưng là con cháu nhà Lê, cứ quấy rối mãi. Khi Françis Garnier ra lấy Hà Nội, những người ấy về xin theo đi đánh quan ta, nhưng vì sau nước Pháp trả lại các tỉnh ở Bắc Kì, họ lại tản đi. Vả từ khi nước ta và nước Pháp đã kí hoà ước rồi, quan Pháp có đem binh thuyền đi đánh giúp, cho nên mới tiệt được đảng ấy”.

(103) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 340.

(104) CXL., sđd., 2001, tr. 340.

(105) NTP., sđd., 1974, tr. 203; CXL., sđd., 2001, tr. 340.

(106) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 340.

(107) CXL., sđd., 2001, tr. 312.

(108) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 341.

(109) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 341 – 342.

(110) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 343.

(111) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 343 – 344.

(112) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 344.

(113) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 336.

(114) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 349 – 350.

(115) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 348 – 349, 350.

(116) NTP., sđd., 1974, tr. 217, 216 – 218.

(117) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 349.

(118) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 359: một vạn hai (12.000) tên, hẳn chưa kể số quan chức tay sai. Theo Yoshiharu Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 78: số “lính bản xứ”, tay sai ở Bắc Kì ấy là một vạn tư (14.000) tên!

(119) Jean Dupuis, xem chú thích (39).

(120) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 351.

(121) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 350.

(122) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 351.

(123) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 351.

(124) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 351.

(125) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 352.

(126) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 352 – 353.

(127) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 353 – 354.

(128) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 355.

Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2).


TRẦN XUÂN AN


HẾT TỆP 3
(PHÂN ĐOẠN 3, TRUYỆN KÍ THỨ 7)
thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”

Xin xem tiếp TỆP 4
(phân đoạn 4, truyện kí thứ 7)
thuộc tập II bộ sách “PCĐT. NVT.”

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II A)

Tệp 2 - Tập II
(PHÂN ĐOẠN 2, TRUYỆN KÍ THỨ 7)

Sẽ đăng trên Tạp chí điện tử Giao Điểm
số tháng 12-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm

TRẦN XUÂN AN

CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874


Truyện kí thứ bảy
(phân đoạn 2)

3

Sau bốn ngày, đến hôm hai mươi bảy tháng sáu nhuận (19.8.1873) (40), tàu sứ bộ Đại Nam mới hàn chữa gần xong hệ thống nồi hơi nước. Khoảng hai giờ chiều ngày mùng một tháng tám nguyệt lịch (23.8.1873) (40), tàu thuyền sứ bộ Đại Nam mới ra khơi. Nhưng lúc đến gần Nha Trang, thấy rõ cửa biển Cù Huân, tàu lại hỏng máy! Đến giờ ngọ, tàu thuyền cũng cập được bến để sửa máy! Mùng sáu, đoàn tàu thuyền sứ bộ mới lại ra khơi! Mùng bảy, đến Phan Thiết. Mùng tám, thấy rõ đằng xa là Cấp Saint – Jacques (Vũng Tàu) nhưng gió mùa dữ dội, tàu không thể đi tiếp. Mùng chín (31.8. 1973) (40), tàu cập bến Cấp, sứ bộ gửi thư đường bộ cho Dupré ở Sài Gòn. Mười một giờ, nhổ neo. Chín giờ tối hôm ấy, sứ bộ mới cho neo tàu thuyền tại bến Thủ Ngữ của thành phố trung tâm Gia Định, thủ phủ của Nam Kì (40). Khoảng mười giờ tối, Philastre, đặc phái viên của đề đốc hải quân đảm nhiệm chức vụ thống đốc Nam Kì Dupré, đến thăm hỏi các thành viên của sứ bộ Đại Nam, và hỏi ngày giờ họ định lên bộ. Nhưng trưởng đoàn, chánh sứ Lê Tuấn, không được khoẻ (40), cổ họng bị viêm nặng, cho dù túc trực bên ông là quan ngự y, những viên ngự y mà vua Tự Đức cử đi theo như lệ thường đối với các sứ bộ nước ta.
Một chuyến đi nhiều trắc trở, từ Huế vào Gia Định phải bị kéo dài tới hai mươi hai ngày đêm!
Dẫu sao, vào sáng sớm ngày mười tháng bảy ta (01.9. 1873), nghi thức đón tiếp sứ bộ Đại Nam cũng được diễn ra, với hàng loạt tiếng đại bác bắn chào, với những hàng quân tề chỉnh làm hàng rào danh dự, với xe ngựa, xe hơi (chạy bằng than đá), với thủ tục chào cờ hai nước (40)… Nhưng chính sứ Lê Tuấn bệnh, nên sứ bộ vẫn tiếp tục ở lại tại tàu (40)! Đến hôm sau nữa, ngày mười một nguyệt lịch, sứ bộ mới bắt đầu lên bộ trong một nghi lễ hết sức trang trọng. “Tại Dinh Đề đốc [Dupré] hiện đang có giám mục Mỹ [Colombert, Isidor-François-Joseph ], các cha Vị [Wibeaux, Théodore-Louis], Kerlan, Derval, các thành viên của Hội đồng tư riêng [:tư mật] của đề đốc, lãnh sự các nước Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Đan Mạch, Hoà Lan, và Hoa Kì, cùng với tất cả các viên chức cao cấp của [Phủ suý] Sài Gòn” (41).
Sau đó là nghi thức chào hỏi, đón tiếp, bố trí nơi sinh hoạt và làm việc, có cả sự thăm viếng lẫn nhau giữa hai phái đoàn Việt – Pháp (41).
Ngày mười ba tháng bảy ta (04.9.1873), công việc là dịch các thư từ vua Tự Đức gửi cho đề đốc Dupré (41).
Hai hôm sau, ngày mười bốn, mười lăm (05 – 06.9.1873), phó sứ bộ Nguyễn Văn Tường đến thăm các viên chức châu Âu. Đó là các lãnh sự của các nước Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Đan Mạch, Hoà Lan, và cả lãnh sự Hoa Kì ở phía bắc châu Mỹ (41). Đó là hai ngày đáng ghi nhớ. Trong các cuộc gặp gỡ ấy, phó sứ Nguyễn Văn Tường luôn tìm cách thể hiện ý muốn nối kết bang giao và vận động sự ủng hộ của họ với mục tiêu triều đình đã đề ra: Pháp phải trả lại ba tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên (42) và buộc tên Jean Dupuis rút khỏi Bắc Kì, đúng theo tinh thần “hiệp” ước Nhâm tuất 1862 (42). Phó sứ Nguyễn Văn Tường luôn cho các viên hành nhân thông ngôn của triều đình đi kèm với các linh mục thông ngôn khác. Ông cố gắng nói một cách rõ ràng và giản dị, nhưng cũng không phải không tế nhị. Ông biết tại nơi đây, sứ bộ Đại Nam khó lòng được sự chia sẻ, hỗ trợ của những quốc gia da trắng. Nhưng tình thế Đại Nam không phải là không có khả năng như Xiêm và Trung Hoa, hai nước ấy không để bị độc chiếm bởi một nước da trắng. Đành rằng, bọn da trắng đều một giuộc, nhưng trong thực chất, chúng vẫn mâu thuẫn nhau về quyền lợi, phải kìm giữ nhau, hoặc đến mức thậm tệ thì cũng như một bầy sói tranh nhau miếng mồi, có khi quên bẵng miếng mồi để xoay ra cắn xé nhau… So sánh thế thì quá khập khiễng đến đáng sợ, nếu miếng mồi không đủ cho bầy sói chia nhau… Trong thực tế, dẫu sao, nếu thoát được thế trói buộc phải cam chịu sự độc chiếm của Pháp tại Nam Kì, hẳn quyền thống trị tại đây sẽ bị phân cực, Nam Kì sẽ được trung hoà giữa các cực. Trung hoà giữa quyền lợi của nhiều nước còn dễ thở hơn chịu thống trị dưới một chính quyền thực dân độc đoán, cực quyền! Phó sứ Nguyễn Văn Tường thấy điều khoản thứ tư của “hoà” ước Nhâm tuất 1862 là cả một khó khăn lớn! Chỉ bốn chữ “doãn hành tắc hành” mà thành cả vấn đề! “Doãn hành tắc hành” (ở khoản IV) có nghĩa là nếu vua Đại Nam muốn nhượng một phần đất nào đó cho một quốc gia khác thì phải được nước Pháp bằng lòng trước đã (43)! Phó sứ Nguyễn Văn Tường cũng ngỏ lời rằng sứ bộ sẽ đi thăm từng nước ở châu Âu và Hoa Kì, giấu kín mục đích “nhằm tìm ra một cường quốc nào đó đối thủ của nước Pháp bằng lòng giúp họ đánh đuổi người Pháp ra khỏi Bắc Kì và luôn cả Nam Kì. Khoảng giữa năm 1872, triều đình Huế cũng đã đón tiếp một vài người của một họ người Đức…” (44) . Nhưng rất tiếc, bấy giờ, triều đình Huế đã bị lừa, phải mua một chiếc tàu thuỷ cũ với giá rất cao của Hãng Carlovits và Công ty, thực chất hãng này là bọn giả mạo trong trang phục sĩ quan Đức, đang đóng kịch làm chức năng những nhà ngoại giao của Đức (44). Tuy năm ngoái thất bại vì bị lừa, năm nay, trong chuyến đi sứ này, triều đình Huế cũng đã đưa ra mục tiêu tìm sự ủng hộ ấy. Tất nhiên, biết là khó khăn, phó sứ Nguyễn Văn Tường vẫn kín đáo ngỏ ý với đại diện của các nước hiện đang có mặt. Đó là những lãnh sự thuộc các nước Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Đan Mạch, Hoà Lan, và cả lãnh sự Hoa Kì ở phía bắc châu Mỹ (41). Ông cố gắng nói điều đó thật kín kẽ để tránh tai mắt của Pháp ngay tại nơi vốn là Sứ quán Gia Định thuộc Pháp này.
Sau khi nhận thư mời nhóm họp, đến ngày mười bảy ta (08.9.1873), quả như phỏng đoán trước, tên thống đốc Dupré “trình bày đủ mọi lí do can gián các sứ quan [:sứ thần] đi Pháp và chứng minh cái lợi điểm kí kết hoà ước ngay tại Sài Gòn này” (45). Rõ ràng Dupré đã biết ý định tìm những nước ủng hộ của sứ bộ Đại Nam, cho dù phó sứ Nguyễn Văn Tường nói kín đáo đến đâu! Tuy vậy, đó chỉ là một cách li gián các lãnh sự của những nước hiện đang có mặt. Bản thân phó sứ Nguyễn Văn Tường cũng như các thành viên sứ bộ đều hiểu, đằng sau Pháp còn có liên minh xâm lược của hàng chục nước thực dân Âu Mỹ. Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Đan Mạch, Hoà Lan, và cả Hoa Kì đều làm hậu thuẫn cho Pháp, muốn được chia chác quyền lợi với Pháp trên đất Đại Nam này! “Hiệp” ước này trực tiếp kí với Pháp, nhưng thực chất là phải chấp nhận mở cửa xuất nhập khẩu cho nhiều nước thực dân Âu Mỹ! Biết vậy, nhưng phải vừa tìm cách tranh thủ sự ủng hộ của các nước cho Đại Nam, vừa là cách li gián chúng trong mức độ nào có thể li gián được, đến mức chúng quay ra đánh nhau, lại càng thuận lợi cho nước ta. Phó sư Nguyễn Văn Tường suy nghĩ và bàn với chánh sứ Lê Tuấn như thế.
Ngày họp thứ hai, mười tám tháng bảy nguyệt lịch (09.9.1873) (45), chánh sứ Lê Tuấn đề cập đến việc đề đốc De la Grandière bức chiếm ba tỉnh Miền tây Nam Kì, và cũng yêu cầu phải trả lại cho Đại Nam. Tất nhiên tên cáo già Dupré không đời nào chịu! Chánh sứ Lê Tuấn xin ngưng cuộc họp. Và Hoắc Đạo Sinh (Phi Lặc, Philastre) được Dupré phân công bàn về việc ấy (45)!
Hôm sau, sứ bộ bàn bạc với Philastre (45). Hôm sau nữa, chánh sứ Lê Tuấn lâm bệnh nặng (45), hầu như khản câm cả giọng, và cuống họng bị sưng vù, nóng bỏng. Các ngự y đi theo chăm sóc thuốc thang, gồm những loại thuốc quý nhất của Thái y viện, bệnh vẫn chưa kịp thuyên giảm. Nhưng rồi cũng chỉ phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doãn phải tiếp tục đàm phán với Philastre về việc De la Grandière vi phạm “hoà” ước Nhâm tuất 1862. Không đi đến đâu!
Ngày hai mươi bốn tháng bảy Nam (15.9.1873) (45), chánh sứ Lê Tuấn vẫn sốt mê man, nên lịch trình các buổi họp đành ngưng lại.
Ngày hai mươi lăm (16.9.1873) (45), các sứ thần Đại Nam gửi đến Dupré một bản văn thư với nhiều yêu cầu:
1. Pháp trả lại ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.
2. Bãi bỏ “doãn hành tắc hành”.
3. Xin chuộc lại một phần đất trong mỗi tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hoà.
Nếu Pháp đồng ý ba khoản như thế, Đại Nam vẫn bồi thường toàn bộ số “chiến phí” (ngạo ngược!) còn lại (45).
Hôm sau, Dupré phúc đáp với lời khước từ các yêu cầu của sứ bộ ta (45).
Hai ngày qua là hai ngày hội nghị bằng bút đàm do chánh sứ Lê Tuấn bị dậy cơn bệnh viêm yết hầu mạn tính. Tất nhiên, không khí thật không dễ chịu chút nào. Các cuộc họp vẫn không thể không ngừng lại và cũng không thể không rơi vào bế tắc.
Dupré báo cáo về Pháp, chính phủ Paris trả lời cho y vào ngày 22.10.1873:
“Trả lại sự quản trị ở ba tỉnh [Miền tây Nam Kì] để đổi lấy “bảo hộ”, thực sự phải có ý nghĩa là ta phải chiếm cả nước An Nam; tuyệt đối phải được như vậy, phải có đủ bảo đảm thì ngài mới nên kí. Nên đòi chiến phí hằng năm bằng tất cả hoa lợi của ba tỉnh” (46).
Đúng là cuồng vọng tham lam của thực dân Pháp!
Thế là đã trôi qua một tháng bảy nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quý dậu (1873)! Tính thêm hai mươi hai ngày trên đường biển, vậy là đã năm mươi hai ngày đêm!
Trong lúc đó, vào cuối tháng bảy nguyệt lịch, Cơ mật viện thấy đã đến lúc không thể không hạch rõ tội ác của Jean Dupuis. Jean Dupuis bấy lâu ngang ngược làm càn: “đánh nguyên đốc học Lê Đình Diên [đến mức] bị thương; bắn chết lí trưởng xã Kim Liên; ngầm chở [súng đạn,] muối gạo, [bí mật câu kết] giao thông với giặc [Cờ vàng] Hoàng [Sùng] Anh” (47) … Không những thế, Jean Dupuis còn “đánh hành khách bị thương, bắn chết binh dân, bức hiếp phố chợ, bao vây để [độc quyền] mua hàng hoá” (48)… Bọn Jean Dupuis còn “đi đến [địa] phận sông huyện Hạ Hoà, tỉnh Sơn Tây, [nơi Trần Bình trấn nhậm, chúng] cướp bóc bừa bãi, [như] bắt hiếp thuyền dân, bắn chết quân lính, cướp lấy súng và khí giới, chặt đứt bè cốn” (49) … Tất cả là do ý đồ của thực dân Pháp, mượn tay Jean Dupuis nhằm khiêu khích để gây chiến ở Bắc Kì, đi đến việc xé bỏ “hoà” ước Nhâm tuất 1862, lập “hoà” ước mới, và cũng do hai tên Hán gian, Hoa kiều Bành Lợi Ký, Quan Tá Đình câu kết, dẫn đường cho Jean Dupuis (50)! Triều đình đã gửi công văn với nội dung ấy cho Dupré và tổng đốc Quảng Châu (Trung Hoa), nhưng đã chẳng thấy tăm hơi gì (51)! Nói đúng ra, nhà Thanh cũng có phúc đáp thư, tuy xác nhận tuần vũ Vân Nam họ Sầm và đề đốc Phùng Tử Tài có đặt mua súng đạn, quân trang ở Jean Dupuis, nhưng nội dung thư cũng chỉ qua loa, đại khái (51)!
Bọn Pháp cũng đã lường trước từ lâu về mối quan hệ láng giềng và đồng chủng Việt – Hoa, nên chúng đã liên minh với tuần vũ Vân Nam và tổng đốc Quảng Châu, hứa chia sẻ quyền lợi với Trung Hoa sau khi khai mở được tuyến sông Hồng và khai thương trên đất Bắc Kì.
Ngày 01.09.1873, Dupré viết gửi cho tuần vũ Vân Nam: “Ngài chớ lo lắng gì đến một việc mà tôi phải lo lắng. Ngài cũng không cần gửi quân để ủng hộ ông Dupuis” (52) . Cũng vào một ngày ấy, Dupré viết thư cho tổng đốc Quảng Châu: “Nếu tôi để cho ngài cả cái gánh nặng nề là bảo vệ quyền lợi thương mại ở Bắc Kì [vốn] gần gũi [với] Sài Gòn, thì đó sẽ là một điều bất công… Trong những điều kiện đó, thì sự có mặt của quân đội Trung Quốc trên nước An Nam còn có lợi gì đâu? Đường sá xa xăm và khó nhọc, nước lại độc, nếu nuôi quân ở đó thì hao tốn lắm. Lòng ngài không thể không đau xót. Cho nên tôi xin ngài rút quân Lưỡng Quảng về và cả quân Vân Nam nữa để cho họ khỏi bị đồn trú xa xôi mệt nhọc và nguy hiểm” (52) .
Như thế, rõ là bọn Pháp đã mua chuộc và khôn khéo lôi kéo Trung Hoa về phía chúng, hòng cô lập Đại Nam ta. Cho nên, không lạ lùng gì khi Cơ mật viện đệ thư qua Vân Nam, Quảng Châu, chỉ nhận lại thư phúc đáp qua loa, đại khái!
Cơ mật viện đề nghị quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương phải bắt ngay bọn Bành Lợi Ký, Quan Tá Đình, giao cho tỉnh Sơn Tây xích trói lại để nêu gương cho bọn sâu mọt trong nước (50). Nhà vua vẫn sợ gây khích biến, bảo giao cho Nguyễn Tri Phương xét kĩ để làm thế nào cho ổn thoả!
Nguyễn Tri Phương đã uỷ cho bố chính Hà Nội Vũ Đường (Đàng) mời Jean Dupuis đến Sứ quán để cùng nói chuyện. Y đi vắng! Hẳn y tìm cách tránh mặt! Tên người Hoa Lý Ngọc Trì tự xưng là tri phủ “thiên triều” nhà Thanh cũng cứ ở trong tàu của Jean Dupuis, thác cớ bị ốm, chỉ cho thuộc viên là hai tên Uông Sư Đa, Hà Sằn đến Sứ quán bàn thay (53)! Thật mất thể cách!
Nguyễn Tri Phương thấy sự nhẫn nhịn theo lệnh vua Tự Đức đến thế đã là quá mức. Ông cảm thấy không thể chịu nổi nữa! Binh bộ hữu tham tri Phan Đình Bình liền được điều động ra Bắc Kì (54) với chức năng khâm phái để cùng quan khâm mạng Vũ hiển họ Nguyễn bàn bạc, xử trí tình huống Jean Dupuis. Vua Tự Đức vẫn âu lo vụ việc sẽ nổ bùng thành chiến tranh, và rất sợ hãi trước nguy cơ thất bại không thể tránh khỏi, nếu thật sự chiến tranh nổ ra!
Jean Dupuis vẫn tiếp tục gây hấn bằng nhiều hành vi ngang ngược, ít ra là từ tháng mười một nguyệt lịch năm ngoái đến cả tháng tám, năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quý dậu (1873) này. Bên cạnh y vẫn luôn có thiếu tá thuyền trưởng tàu Bô Liên (Bô Len, Bourayne) yểm trợ. Ấy là Senès, kẻ đã và đang ngoa ngược bảo rằng tàu của y đi đánh bắt hải tặc theo “hoà” ước Nhâm tuất 1862! Trên tàu Bourayne lại có mặt cố đạo Trường (Legrand de la Liraye) (55), vốn trước kia là quân sư của Pierre Tạ Văn Phụng, nay đang tham mưu về Bắc Kì cho Senès. Ngoài ra, các tên thống đốc thực dân Nam Kì và cả Dupré còn chuẩn bị sẵn từ nhiều năm trước con bài chủ cho sự biến Bắc Kì: không ai khác là Françis Garnier!

4

Ngày mùng năm tháng tám nguyệt lịch (26.9.1873), phó sứ Nguyễn Văn Tường được chánh sứ Lê Tuấn uỷ nhiệm cùng linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư đến dinh thống đốc Dupré để đàm luận nhiều vấn đề liên quan đến hai đất nước, của Pháp và của Việt (56). Nguyễn Văn Tường cố nhấn mạnh đến khó khăn hiện nay của Pháp để cảnh tỉnh tham vọng ở tên cáo già Dupré. Trên cơ sở đó, Nguyễn Văn Tường mong Pháp hãy xem hai tỉnh Alsace và Lorraine Pháp phải cắt nhượng cho Đức cũng như tình trạng Đại Nam phải nhượng và bị cưỡng chiếm Nam Kì bởi Pháp! Ông mong Dupré và nước Pháp hiểu cho nỗi đau lòng của ông và của triều đình, của sĩ dân nước Đại Nam trước số phận nhân dân Nam Kì. Nỗi đau ấy cũng như tâm trạng nhân dân Pháp và chính phủ Pháp đối với đồng bào của họ ở Alsace, Lorraine! Cuối cùng, sau những lời lẽ tâm công đó, phó sứ Nguyễn Văn Tường bày tỏ yêu cầu Dupré tỏ ra thuận lợi đối với Đại Nam. Tên cáo già Dupré hơi chạnh lòng, y đề nghị Nguyễn Văn Tường viết thỉnh nguyện thư gửi Chính phủ Cộng hoà Pháp (56).
Trong quãng cách giữa những ngày làm việc, sứ bộ còn được các giám mục, linh mục Tây dương đưa đi tham quan thực tế ở các chủng viện, trường học do họ tổ chức, quản lí!
Dẫu biết do thực dân đạo diễn, bày vẽ, phó sứ Nguyễn Văn Tường không thể không cảm động đến đau lòng khi nghe các câu hát chào và thỉnh nguyện từ môi những đứa trẻ Việt phải sống trong thân phận nô lệ, đang bị kẻ thù đào luyện thành tay sai “tả đạo” cho tham vọng thực dân của nước Pháp:
“… Tuy nhiên chúng cháu sống bặt tăm trong xứ sở xa xôi này, chúng cháu chỉ còn biết cầu xin hoàng đế cao dày rộng lòng xem xét những trường hợp của chúng cháu…” (57)
“… Nhưng những bọt nước thì phải văng theo sóng lượn!
Xin các ngài xét đến trường hợp của các cháu…” (57).

Nỗi niềm ấy xuất phát từ các trái tim thơ dại, trong trắng đó chăng? Hẳn đúng vậy. Có điều, không thể không thắc mắc, làm sao những đứa trẻ lại có thể phổ thành bài hát và công khai hát trước mặt bọn viễn chinh, cố đạo Pháp trong buổi lễ đón chào sứ bộ Đại Nam này? Tại sao bọn Pháp đạo diễn cho các cháu hát lên như thế? Phải chăng đó là một cách phòng xa của những tên cố đạo (thực chất là thực dân) trước tình thế, biết đâu một ngày nào đó bọn thực dân viễn chinh sẽ phải rút khỏi Đại Nam, nhất là thời điểm Pháp mới bị Phổ (Đức) đánh bại và cách mạng vô sản Pháp có thể lại bùng lên, tình hình chính trị ở Pháp đang có nhiều biến động? Ngày Đại Nam giành lại được nền độc lập, những đứa trẻ bị đào luyện thành “tả đạo” này sẽ phải bị triều đình Đại Nam nghi ngờ, thậm chí trừng phạt… Phải chăng các tên cố đạo phòng xa như thế? Hoặc đó là một biểu hiện cuả thủ đoạn hai mặt (chính – tà nhập nhằng, đánh lẫn) mà các cố đạo thực dân thường sử dụng?
Dẫu sao, những lần ấy khiến phó sứ Nguyễn Văn Tường không thể không trăn trở, và ông quyết định phải đấu tranh với bọn Pháp như thế nào để giành lại những đứa trẻ Việt Nam ấy. Như một loé chớp, ông cầm bút viết vào lúc đêm hôm khuya khoắt, dưới ánh đèn giữa phòng ngủ chung:
“Ôi đất đai khai thác gian nan mà một sớm nhượng cho người. Hoàng thượng nhức nhối trong lòng đã lâu, mà tôi con cũng không dám lộ ra ngoài miệng” (Bản tấu, 10.8 Quý dậu [1873]) (58).
“Thần trộm nghĩ rằng có người mới có đất, mà thu phục nhân tâm thì chính trị tốt không bằng giáo hóa tốt. Các hạt trong Nam vốn có dựng văn miếu, có thầy dạy, có trường thi, nhưng từ khi hữu sự đến nay bỏ phế đã lâu vậy…
Xin được ưng thuận cho đem lí lẽ tranh biện với nó, đòi hỏi cho ta được trùng tu văn miếu để tiện phụng thờ, cắt đặït giáo chức để rèn luyện học trò và mở trường thi để thu nhiều kẻ học. Dân giáo nếu xin nhập học, ứng thí cũng cho.
Như thế thì cõi bờ dù có mất mát chìm đắm, chính lệnh tuy chưa tới được, nhưng giáo hoá vẫn còn có thể thi hành, lấy đó mà vun trồng đạo lí, kích thích sĩ phu. Chúng nó mới đến, dùng chính sách hà khắc, ta lấy thiện giáo dạy dỗ dân. Tuy mất đất đai nhưng có được lòng người, thì cũng có thể dùng về sau. Vả lại, bên ngoài ta lấy vẻ mặt tươi cười chờ đợi, bên trong lại nghiêm chỉnh tự trị, binh khí, thuyền súng có nhân viên đảm trách, người tự nỗ lực, tự mưu tính để chờ cơ hội, thì cái hiệu nghiệm lúc xế chiều không phải là muộn vậy” (Bản tấu ngày 10.8 Quý dậu [1873]) (58).
“Cốt yếu ở chỗ ta phải có thế không thể xâm phạm, sau đó mới lấy lẽ không thể dung tha được để trách người” (Bản tấu ngày 10.8 Quý dậu [1873]) (58)
.
Những ý nghĩ ấy day dứt trong lòng phó sứ Nguyễn Văn Tường khôn nguôi.
Trong tình huống ấy, sứ bộ vẫn thường xuyên nhận được tin tức thông báo tình hình Bắc Kì qua trung sứ (viên sứ giao liên), và cũng qua trung sứ, họ liên lạc, trao đổi với triều đình Huế. Yêu cầu của triều đình Huế và vua Tự Đức đặt ra, chính vua và các đại thần phần nào cũng đã thấy bất khả! Sứ bộ nhận được chỉ thị mới trong nỗi chua xót. Hạ thấp yêu cầu của phía ta trong đàm phán, điều ấy có nghĩa là, không thể gọi chuyến đàm phán này là thắng lợi. Thắng lợi thế nào được khi sứ bộ ta không đạt được mục tiêu ban đầu!
Ngày mùng chín tháng tám nguyệt lịch (30.9.1873), sứ bộ gửi đến thống đốc Dupré một công văn với vài lời khiếu nại mới (59). Ba hôm sau (03.10.1873), phó sứ Nguyễn Văn Tường, tham biện sứ bộ Nguyễn Tăng Doãn và linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư đến Dinh Thống đốc Pháp, đề nghị phúc đáp công văn (30.9.1973) (59). Trong công văn ấy, sứ bộ đã hạ thấp yêu cầu:
1. Trao trả tỉnh Biên Hoà, vì đó là quê hương của mẹ vua Thiệu Trị.
2. Bãi miễn hoàn toàn số tiền bồi thường chiến phí (cả Pháp lẫn Tây Ban Nha).
3. Bỏ câu “doãn hành tắc hành” trong “hoà” ước Nhâm tuất 1862, vốn bó buộc vua Tự Đức không được nhượng một phần đất nào của mình cho một quốc gia nào khác nếu không được nước Pháp chấp thuận (59).
Thái độ của Dupré vẫn là im lặng từ chối. Y không muốn phúc đáp, chỉ bày tỏ ý định là mong sứ bộ chờ cho vài bữa!
Trong thời điểm ấy, viên chủ sự của ta, tên Sâm, vốn là tuỳ viên sứ bộ, bị vi phạm sơ suất nặng, phải bị bãi chức, nhưng vẫn cho ở lại để dự thính, học thêm tiếng Pháp, hoàn thiện thêm năng lực thông ngôn (60). Dẫu sao, việc bãi chức này vẫn là sự cố ngoài lề thuộc về nguyên tắc. Công việc vẫn tiến hành như cũ.
Trong quãng thời gian trống, vẫn có người chợt hỏi: Thật ra, phải chăng “vấn đề trục xuất Jean Dupuis ra khỏi Bắc Kì có thể là mục đích chính của sứ bộ An Nam” (61) ? Không, không phải chỉ yêu cầu quá thấp như thế, mặc dù đấy là một trong những yêu cầu chính.
Trong khi chờ sự thay đổi ở Dupré, hãy đàm phán về vụ Jean Dupuis xem sao! Sứ bộ nghĩ vậy.
Những hối thúc tác động vào Dupré. Y trả lời cho sứ bộ về yêu cầu ấy:
- “Tôi thấy không có cách gì hay hơn là tôi sẽ gửi một sĩ quan và một số nhân viên tuỳ tùng ra Hà Nội. Viên sĩ quan này sẽ ra lệnh cho Dupuis phải rút lui, và lấy vũ lực buộc anh ta thi hành mệnh lệnh nếu anh ta cưỡng lại lời nói” (62) .
Sứ bộ đệ trình ra Huế bằng đường trạm khẩn cấp.
“Triều đình nhận lời đề nghị này, và tưởng rằng đã được việc, và sẽ lợi dụng Dupré để đuổi Jean Dupuis, rồi kiếm cách đuổi Dupré sau” (62) .
Vào ngày mười bảy tháng chín (08.10.1873), phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doãn lại đến gặp Dupré. Đề nghị hôm ấy là phải cho hai chiếc tàu ra Bắc Kì để bắt giam, trục xuất Jean Dupuis (63), bởi y ngày càng khiêu khích ngông ngược, đến mức đa số sĩ dân Bắc Kì và Nguyễn Tri Phương không thể chịu nổi, cho dù Phan Đình Bình đã ra Hà Nội để tiếp sức cho ông!
Sứ bộ không ngờ Françis Garnier mới về từ Thượng Hải, sau chuyến nghỉ phép ba tuần để thu xếp cho vợ con, y cũng đang chuẩn bị ra Bắc (64)! Con bài Françis Garnier đang được ném vào chiếu bạc chính trị ở Bắc Kì theo dự tính từ lâu của thực dân Pháp!
Triều đình Huế đã có một nhân vật đối trọng với Jean Dupuis và cả với Françis Garnier, sẽ làm đúng vai trò như Jean Dupuis! Lưu Vĩnh Phúc không phải người Việt, mà vốn là giặc Cờ đen. Có thể Lưu Vĩnh Phúc sẽ phải chiến đấu trong vai trò hiệp sĩ “phi chính phủ” (ngoài vòng trói của “hoà” ước!) . Lưu Vĩnh Phúc không thuộc quyền chỉ huy của ai hết, kể cả sự phụ thuộc vào triều đình Huế!
Sứ bộ không biết, trước hôm Françis Garnier ra đi, tên cáo già Dupré đã kể chuyện Jean Dupuis trên đất Hà Nội và trên các tỉnh khác ở Bắc Kì cho y.
“Dupré nói với Garnier:
- Vì các việc nói trên, mà tôi đã nghĩ đến anh. Tôi sẵn sàng cho anh một ngàn (1.000) quân dưới quyền chỉ huy của đại tá Trentinian và một số pháo thuyền quan trọng.
Nhưng Garnier trả lời:
- Như vậy ta sẽ đi vào con đường khá nguy hiểm. Huế chỉ nhận cho ta đưa đi một vài nhân viên tuỳ tùng. Nếu ta giữ đúng lời này, ta sẽ giữ được một vị trí ngoại giao không ai có thể chống đối được.
- Vậy anh có thể đích thân đi được không?
- Thưa được, nhưng chỉ với sáu mươi (60) người thôi, mà tôi được quyền lựa chọn. Tôi sẽ thoả hiệp với chánh phủ người Nam và sẽ giải quyết tình hình tại chỗ. Nếu ta có thể làm cho Dupuis nghe lẽ phải, thiếu tướng sẽ có thể vì ân nghĩa này mà đòi hỏi triều đình Huế thoả thuận cho ta được đi lại tự do trên sông Hồng với một hiệp ước đồng minh” (65)
.
Thật tâm Dupré cũng chẳng dám trái lệnh Paris, Paris đang cố tránh sa lầy tại Bắc Kì trong thế yếu của nước Pháp sau chiến tranh Pháp – Phổ. Ông ta nén tham vọng, nghe theo Garnier với mục tiêu hạn chế ấy! Hai tên thực dân khác, bộ trưởng Hải quân Pothuau và cả đại uý Garnier cũng thế, đều sục sôi tham vọng nhưng cũng đều sợ trách nhiệm!
Ngày mười chín tháng chín (10.10.1873), Garnier đến thăm các sứ thần nước ta trước khi lên đường ra Bắc Kì (66)!

5

CƯỠNG ƯỚC NHÂM TUẤT 1862 (67)

“Khoản thứ I: Từ sau khi [kí kết “hoà” ước], vua hai nước Phú Lãng Sa và Y Pha Nho với vua nước Đại Nam cùng dân ba nước, không kể người nào ở địa phương nào, đều cùng đôn đốc hữu nghị, hoà hảo lâu dài.
Khoản thứ II: Hai nước Phú và Y truyền Đạo Thiên chúa ở nước Đại Nam, ai muốn theo cũng cho, ai không theo cũng không bắt buộc.
Khoản thứ III: Về ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường và một xứ đảo Côn Lôn, giao cho nước Phú quản hạt. Như người buôn của nước Phú chạy tàu, thuyền lớn nhỏ từ biển khơi đến các sông lớn, sông nhỏ, đi sang các xứ nước Cao Mên buôn bán, đều được tuỳ tiện. Nếu tàu binh của nước Phú do tự [:theo từ] ngoài khơi ấy đi vào các sông xem xét cũng cho tuỳ tiện.
Khoản thứ IV: Từ sau khi nghị hoà, nếu có nước khác muốn đến nước Nam gây chuyện, hoặc muốn cắt đất giảng hoà, nên báo tin cho nước Phú tính bàn, tuỳ nghi cùng giúp đỡ. Về trong khoản giảng hoà với nước khác mà có sự cắt đất, nếu nước Phú bằng lòng làm thì làm, không bằng lòng thì bất tất làm.
Khoản thứ V: Người buôn ở hai nước Phú, Y đến buôn bán ở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên, đều nên đây đó cùng yên, cho được tuỳ tiện. Về thuế lệ của nước Nam, phải chiểu lệ mà giao nộp. Nếu người buôn của nước Nam có muốn đi sang buôn bán ở hai nước Phú, Y, cũng được tuỳ tiện, y theo thuế lệ hai nước ấy mà nộp. Nếu người nước khác đến buôn bán ở nước Nam, thì quan nước Nam không được tư vị giúp đỡ hơn là hai nước Phú, Y. Nếu có sự ích lợi buôn bán gì thi hành cho nước khác, thì cũng thi hành cho cả một loạt, [gồm] cho hai nước Phú, Y.
Khoản thứ VI: Nếu có công việc khẩn yếu mà cần phải hội đồng bàn bạc để làm thì đều phái ra viên khâm sai đại thần, hoặc họp ở kinh đô nước Nam, hoặc họp ở kinh thành hai nước [Phú và Y] để bàn mới được. Nếu không phải là nhân việc công mà ba nước sai sứ đến hỏi thăm nhau cũng được.
Nhưng tàu của hai nước Phú, Y đến cửa biển Đà Nẵng thì [phải] cho tàu dừng đậu. Viên khâm sứ phải do [:theo] đường bộ [từ Đà Nẵng ra,] tiến vào kinh.
Khoản thứ VII: Sau khi đã hoà ước rồi, thì những điều thù oán cũ vất bỏ đi hết. Phàm quân dân người nào bị nước Phú bắt giam đều tha cho về. Tài sản của trăm họ cũng đều giả lại cả. Những người nước Nam có đi làm việc cho người nước Phú, [thì] nước Nam cũng nên đặc ơn tha cho họ và không bắt tội đến thân thuộc họ.
Khoản thứ VIII: Bồi lại số bạc chi phí về quân nhu cho hai nước Phú, Y là bốn trăm vạn (4.000.000) đồng [đô-la], chia trả làm mười năm cho đủ. Mỗi năm giao cho viên đại thần nước Phú đóng ở Gia Định bốn mươi vạn (400.000) đồng chứa giữ. Nay hiện đã nhận được mười vạn (100.000) quan tiền kẽm; đợt sau giao bạc sẽ khấu trừ đi. Mỗi đồng bạc nặng là 07 đồng cân 02 phân [tương đương với 01 đô-la].
Khoản thứ IX: Nước Nam như có những giặc cướp, giặc biển, những kẻ làm loạn, quấy rối ở địa phương thuộc về nước Phú mà trốn về địa phương nước Nam, hay tù phạm giặc cướp của nước Phú trốn sang địa phương nước Nam, thì quan nước Phú lập tức tư cho quan địa phương nước Nam ở nơi tên can phạm ẩn trốn ấy, bắt giải giao cho địa phương nước Phú trị tội. Nếu có bọn cướp, giặc, bọn can phạm của nước Nam trốn ở địa phương thuộc về nước Phú, thì quan nước Nam cũng [thông] tư cho quan nước Phú biết, bắt bọn tội phạm ấy giao cho quan địa phương nước Nam trị tội.
Khoản thứ X: Từ sau khi nghị hoà rồi, phàm nhân dân ở ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên đi lại buôn bán ở địa phương thuộc về nước Phú, về thuế lệ của nước Phú, đã theo lệ nộp rồi, thì đều được tuỳ tiện. Nếu nhân có việc công hoặc các việc quân lính, lương thực, súng đạn, khí giới, mọi vật, muốn qua lại cửa biển Tiểu ở Định Tường thuộc về đất của nước Phú, thì Phú Lãng Sa cũng chuẩn cho đi. Nhưng tất phải trước mười (10) hôm quan nước Nam phải [thông] tư báo cho quan nước Phú biết trước để cấp phiếu cho đi. Nếu không báo trước, lại không có giấy chứng thực của quan nước Phú mà tự tiện đi lại riêng lén, quan nước Phú xét biết, nhất định đem thuyền ấy phá tan và quân lính đều bắt giữ trị tội.
Khoản thứ XI: Tỉnh Vĩnh Long hiện đã về phần sở hữu của nước Phú, nay tạm làm nơi đóng quân. Nhưng [:mặc dù] quan quân của nước Phú tuy đóng ở Vĩnh Long, nhưng phàm việc nào thuộc về nước Nam, do quan nước Nam xử lí, thì quan binh nước Phú không chen vào kiêm làm, cùng là các việc cấm răn cũng vậy. Duy nước Nam hiện còn có các quan vâng mệnh dò thám riêng, để thừa cơ tiến đánh, vẫn ẩn nấp ở hai tỉnh Gia Định, Định Tường. Hiện nay đã cho nghỉ việc binh, lại lập hoà ước, thì nước Nam tất phải cho gọi những bọn quan viên ấy về, để cho nhân dân địa phương ấy đều được bình an, [và đến khi quan quân do thám của nước Nam rút hết] thì nước Phú lập tức đem tỉnh Vĩnh Long giao trả về nước Nam coi quản.
Khoản thứ XII: Phàm sau khi chương trình hoà ước đã lập rồi, quan đại thần ba nước kí tên, đóng dấu tâu lên. Tính tự ngày kí tên, đóng dấu là bắt đầu, hạn trong một năm, thì vua ba nước coi xem, phê chuẩn, rồi giao cho nhau ở tại kinh thành nước Nam để lưu chiểu”.

Làm tại Gia Định, ngày mùng 09 tháng 05 năm Tự Đức thứ mười lăm, Nhâm tuất (lịch Nam), tức là ngày 05.06. 1862 (lịch Tây).
Toàn quyền đại thần nước Đại Nam: Chánh sứ, thượng thư Phan Thanh Giản; phó sứ, thượng thư Lâm Duy Thiếp.
Toàn quyền đại thần nước Phú Lãng Sa: Bonard, thiếu tướng hải quân, tổng chỉ huy liên quân Pháp [:Phú] – Tây Ban Nha [:Y Pha Nho].
Toàn quyền đại thần nước Y Pha Nho: Guittierez, đại tá chỉ huy trưởng quân đội viễn chinh Tây Ban Nha [:Y] tại Nam Kì (68)
.

6

Ngày mười, tháng chín nguyệt lịch (30.10.1873), chánh sứ Lê Tuấn vẫn lâm bệnh nặng (69). Ông gắng gượng viết bản sớ xin nhà vua đổi người đảm trách chức vụ lãnh đạo sứ bộ thay ông (69). Không phải tình hình đã xấu đi đến mức ông phải thoái thác, thật sự ông thấy sức khoẻ mình đã đến lúc ngặt nghèo. Thuốc thang không thiếu, ngự y giỏi nhất nhì Thái y viện vẫn ngày đêm túc trực, nhưng quả thật, ông thấy rõ bệnh không thuyên giảm chút nào. Cổ họng ông vẫn sưng tấy, nhức nhối. Hôm nay, Dupré đến, chánh sứ Lê Tuấn vẫn không ngồi dậy nổi để tiếp. Nằm trên giường, ông vẫn nghe y thúc giục sứ bộ họp hội đồng để soạn thảo ra các điều khoản “hoà” ước mới (70). Nhưng phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doãn đề nghị hoãn lại việc đó trong khi chánh sứ đang bệnh (70). Dupré trở về dinh của y trong sự sốt ruột. Chả là y sắp hết hạn phục vụ, nên trong thâm ý vẫn muốn lập công lần cuối!
Về đến dinh, Dupré viết ngay một bức thư gửi ra vua Tự Đức. Y vẫn muốn giữ lại chánh sứ Lê Tuấn (69) và đồng thời y rất ngại chính Nguyễn Văn Tường, người mà y rất gờm vì sự linh hoạt và sắc bén của ông, sẽ gây khó khăn cho y!
Sáu ngày sau (05.11.1873), phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doãn lại cùng linh mục thông ngôn Nguyễn Hữu Cư đến Dinh Thống đốc, yêu cầu Dupré suy nghĩ các điểm đề xuất (71).
Phó sứ Nguyễn Văn Tường nói:
- Chúng tôi mong thống đốc trao trả tỉnh Biên Hoà và phủ Hoà Thạnh (71). Xin lặp lại yêu cầu ấy. Chẳng lẽ nước Pháp vẫn cố quyết vi phạm “hoà” ước Nhâm tuất 1862 đến mức không thể thương lượng phần nào? Chẳng lẽ Đại Nam lại mất không ba tỉnh Miền tây vì sự vi phạm thô bạo ấy?
- Rất tiếc, chúng tôi không thể trả lại tỉnh nào ở Nam Kì. Từ năm 1867 đến năm 1868, tướng De la Grandière đã dứt khoát vấn đề này. – Ngẫm nghĩ một lát, y nói tiếp –. Tuy nhiên, dẫu sao, tôi cũng hứa sẽ trả lại những vùng đất nào có mộ phần thuộc họ thân mẫu, họ ngoại tổ nhà vua… Đấy là những nơi khoảng vài chục mẫu đất…
- Thống đốc nghĩ sao về việc chúng tôi đề nghị bãi bỏ toàn bộ số tiền được gọi khá mỉa mai và vô lí là “bồi thường” chiến phí (71)? – Phó sứ Nguyễn Văn Tường nói –. Hẳn đến nay, nước Pháp cũng rất bực nhọc về việc phải bồi thường như vậy cho Đức! Nhưng khác với nước Pháp, Đại Nam không hề tuyên chiến, mà chỉ chiến đấu để tự vệ!
- Tôi mong rằng sứ bộ sẽ được uỷ nhiệm toàn quyền. Đến lúc ấy, tôi sẽ xin chính phủ Pháp theo yêu cầu. Có điều chưa dám hứa trước! – Dupré đáp –.
Phó sứ Nguyễn Văn Tường biết đó là cái bẫy. Ông nói:
- Rút kinh nghiệm về sứ bộ Phan Thanh Giản, lần này, bao giờ các khoản “hoà” ước được hai bên sứ bộ và suý phủ thoả thuận xong, nhà vua và triều đình bản quốc đồng ý, bấy giờ mới có sắc ấn toàn quyền. Xin hãy thoả thuận trước.– Phó sứ Nguyễn Văn Tường lại nói –. Còn điểm thứ ba, “doãn hành tắc hành” (71) ? Chúng tôi hi vọng thống đốc đã suy nghĩ lại.
Ngước đôi mắt xanh lè lên, Dupré lại gật đầu:
- Điểm này tôi đồng thuận (71).
Sứ bộ Đại Nam cảm thấy khá lạc quan. Đó vẫn là điểm mấu chốt để phá vỡ thế bị cô lập và trói chặt về ngoại giao, kể cả ngoại thương. So với cuộc hội đàm năm 1867 đầu năm 1868, sứ bộ thấy kết quả có phần khả quan hơn. Nhưng phó sứ Nguyễn Văn Tường vẫn muốn tranh đấu thêm một mức nữa.
Đến hết buổi trưa, rốt cuộc, Dupré vẫn chỉ chịu nhân nhượng đến đó!
Hai mươi ngày sau, tin từ triều đình Huế chuyển vào:
“Vua nghe tin chánh sứ đi Tây là Lê Tuấn ốm, ở lại tỉnh Gia Định, [liền] sai phái thầy thuốc đến chữa và sai trung sứ đem các thứ thuốc. Rồi tiếp được một tập mật tâu của Lê Tuấn và thư của tướng Pháp, chữ Tây, chữ Hán mỗi thứ một tờ.
Vua bảo Viện Cơ mật rằng: “Tập tâu của Lê Tuấn xin đổi người đi sứ, mà thư của tướng Pháp có ý hình như không muốn đổi, thì tình ý đã hợp, làm việc dễ thương thuyết, quyết không đổi”. [Vua] chuẩn cho lục chỉ giao cho sứ thần tuân theo” (69)
.
Đó là ngày mùng sáu tháng mười nguyệt lịch (25.11. 1873).
Bốn ngày sau, chiếc tàu Decrès từ Hà Nội vào đến Sài Gòn. Ngày kế tiếp, Dupré đến Dinh Sứ quán báo tin Garnier đã chiếm thành Hà Nội từ mười hôm trước (72)! Đó là một tin sét đánh đối với sứ bộ! Bàng hoàng hơn, khi họ nghe những tin về tổn thất.
Đêm đến, cả chánh sứ Lê Tuấn, người lúc này đã được phục hồi sức khoẻ (72), cùng với phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doãn đều đi đến Dinh Thống đốc xin phóng thích cho các viên quan của ta ở Hà Nội bị giặc bắt vào, chúng đang giam giữ họ. Sáng hôm sau Dupré mới trả lời, y chỉ phóng thích cho khâm phái Phan Đình Bình và bố chính Vũ Đường (Đàng), còn các viên khác, đề đốc Đặng Siêu, lãnh binh Nguyễn Đăng Nghiễm và hai con trai của Phan Thanh Giản là Phan Tôn, Phan Liêm, y vẫn quyết định phải giam giữ làm con tin, cho đến khi kí kết “hoà” ước xong. Và ngay lập tức, vào ngày mười hai (01.12.1873) ấy, theo lệnh y, hai anh em họ Phan bị đẩy xuống tàu Aveyron để bị chở về Pháp (72)!
Sứ bộ không thể không rúng động trước sự biến quá bất ngờ. Họ tiên đoán chúng sẽ làm sức ép, nhưng bằng sự quấy rối hơn là bằng tấn công quân sự. Họ lại hoàn toàn không ngờ thành Hà Nội lại thất thủ nhanh đến thế với tổn thất về người đau đớn đến thế!
Đối với sứ bộ, cái chết cùng ngày của giám mục Miche (73), kẻ trợ giúp đắc lực cho việc Pháp bảo hộ Cao Mên (73), cái chết ấy càng trở nên vô nghĩa trước tin dữ kia, thậm chí còn dưới mức vô nghĩa nữa! Trong thời điểm nghe tin Hà Nội thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương, bị bắt, con trai ông (phò mã Nguyễn Lâm) tử trận, không gì mỉa mai, chua chát hơn khi sứ bộ Đại Nam phải đành cắn răng tuân theo phép lịch sự ngoại giao, đến giáo đường “tả đạo” để dự lễ cầu hồn, an táng giám mục thực dân Miche (73).

Hết tệp 2 truyện kí thứ 7

Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 7
vào lúc 11 giờ kém 05 phút,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ, HB.2).


TRẦN XUÂN AN


(40) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 467 – 469.

(41) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 469 – 470.

(42) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 293, 342; NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 471.

(43) NNBCĐH., bài đã dẫn, chú thích của Cadière, sđd., 2001, tr. 474.

(44) NNBCĐH., bài đã dẫn, chú thích của Cadière, sđd., 2001, tr. 471.

(45) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 471 – 474. Xem chú thích (110).

(46) M. Dutieb, L’Amiral Dupré et la conquête du Tonkin, dẫn theo CXL., sđd., 2001, tr. 298.

(47) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 321.

(48) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 322.

(49) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 328.

(50) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 321.

(51) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 322 – 324.

(52) CXL., sđd., 2001, tr. 314.

(53) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 324.

(54) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 325.

(55) CXL., sđd., 2001, tr. 293.

(56) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 474.

(57) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 472 – 473, 474 – 475.

(58) Châu bản, dẫn theo: Các báo cáo khoa học, bài “Tìm hiểu thêm về Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)” của Trần Viết Ngạc, Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, 02.07.2002., tr. 16.

(59) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 475 – 476.

(60) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 476, 479.

(61) NNBCĐH., bài đã dẫn, chú thích của Cadière, sđd., 2001, tr. 476.

(62) NTP., sđd., 1974, tr. 180.

(63) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 476.

(64) NNBCĐH., bài đã dẫn, chú thích của Cadière, sđd., 2001, tr. 476.

(65) NTP., sđd., 1974, tr. 181.

(66) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 476.

(67) ĐNTL.CB., tập 29, sđd., 1974, tr. 297 – 305.

(68) VN.NSKLS, tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 45 – 46.

(69) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 333.

(70) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 477.

(71) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 477.

(72) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 478.

(73) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 478 – 479, 470.

Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2)
.

TRẦN XUÂN AN


HẾT TỆP 2
(PHÂN ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
thuộc tập 2 bộ sách “PCĐT. NVT.”
(từ tr. 24 đến tr. 44)

Xin xem tiếp T ỆP 3
(phân đoạn 3 truyện kí thứ 7)
thuộc tập 2 bộ sách “PCĐT. NVT.”
(từ tr. 45 đến tr. 68)

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập II A)

Tệp 1 - Tập II
(phân đoạn 1, truyện kí thứ 7)
tiếp theo tập I
http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/
…1b … & …1c …

Sẽ đăng trên Tạp chí điện tử Giao Điểm
số tháng 12-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm


TRẦN XUÂN AN

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)


truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử
TẬP II
(trọn bộ 4 tập)


bản sơ thảo hoàn chỉnh, 10.2002
bản tự nhuận sắc, 02.2004


NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. HCM.
2004
(trong bản đã xuất bản,
có gác lại một số đoạn chú thích)

HAI MƯƠI LĂM THÁNG MƯỜI
HAI KHÔNG KHÔNG HAI
(HAI MƯƠI THÁNG CHÍN NHÂM NGỌ
NĂM THỨ HAI CÔNG NGUYÊN HOÀ BÌNH)


TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG CỦA MÌNH
TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN


Tác giả,
TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai
(cửa hiệu Phan Huyên)
Phường 3, quận Tân Bình
Thành phố Hồ Chí Minh
ĐT.: [08] 8453955
& 0908 803 908

Khởi viết từ 08 giờ 39 phút, ngày 25.10.2002
(20.9 Nhâm ngọ, năm thứ hai công nguyên Hoà Bình);
Tạm hoàn tất tập II vào lúc 17 giờ 24 phút,
ngày 06.12. 2002 (03.11 Nh. ngọ HB.2),
tại thành phố Hồ Chí Minh.



Kính dâng lên bàn thờ cao tổ phụ
NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 – 1886)

Trần Xuân An,
hậu duệ thế hệ thứ năm.


Xin tạ ơn ngọn bút,
biểu tượng của sự công chính và liêm khiết trí tuệ.
Xin yêu thương, trân trọng
và bảo vệ
từng dòng chữ mồ hôi nước mắt
của chất xám và trái tim.

TXA.



PHẦN THỨ TƯ
(1873 – 1880)


TRẦN XUÂN AN

CƯỠNG ƯỚC “HỮU NGHỊ”
VÀ CƯỠNG ƯỚC THƯƠNG MẠI,
GIÁP TUẤT 1874


Truyện kí thứ bảy
(phân đoạn 1)

1

Tháng sáu nhuận lại khởi đầu với những ngày nắng chói chang. Quảng Trị quê nhà chói rực nắng đến nhức mắt. Nắng nóng ngay từ lúc hừng sáng trên biển đông phía Cửa Việt, và gió, gió nam lửa từ phương tây phía Lào, suốt ngày đêm thổi gắt, khiến ruộng đất nứt nẻ. Phó sứ, tham tri Bộ Lễ Nguyễn Văn Tường cùng những người trong sứ bộ, trong đoàn tuỳ tùng chuẩn bị vào Gia Định trong cái nắng xứ Huế dữ dội không kém gì ở Quảng Trị.
Với quan niệm thiên, địa, nhân nhất thể và cảm ứng lẫn nhau, quan quản đạo Tôn Thất Trường đã sáu lần lập đàn cầu mưa, nhưng chỉ được mưa nhỏ (một cách ngẫu nhiên!). Quan phủ doãn kinh sư Nguyễn Hanh cũng lập đàn cầu mưa cho cả Thừa Thiên và Quảng Trị trong niềm tin về Trời. Trời như một thực thể lí và khí, không nhân dạng, nhân hình, không hề nói gì và chẳng bao giờ nói gì, cứ vận hành theo quy luật, nhưng có thể cảm ứng với Đất, với Người. Người không hại người, không hại đất, không hại trời, và cũng như thế, không yếu tố nào làm hại yếu tố nào, đó là nhân của quả thái bình. Nhưng Con Người, mỗi người là một tiểu vũ trụ, vẫn là chủ thể của chuỗi tương tác bất tận ấy. Thiên thời, địa lợi, nhân hoà, ba yếu tố trong nhất thể, tương tác theo luật nhân quả với quan niệm biện chứng tâm linh!

“Thiên hà ngôn tai
Tứ thời hành yên
Vạn vật sinh yên
Thiên hà ngôn tai”

Trời nói gì đâu!
Bốn mùa vần trôi
Vạn vật sinh sôi
Trời nói gì đâu! (1)


Trời, tạo vật ư? Khổng Tử đã chẳng viết về ý niệm Trời và quy luật vận hành, sinh sản của vạn vật như vậy đó sao!
Và đôi khi, rất ngẫu nhiên, trời cảm động, chuyển mưa, như Quảng Trị đang mưa! Quan phó sứ Nguyễn Văn Tường đã thấy trời xứ Huế mát dịu hẳn lại nhờ những cơn mưa nhỏ ở quê nhà Quảng Trị (2).
Nhưng tình hình chính trị không mát dịu chút nào!
Ở Hà Nội, Jean Dupuis vẫn liên kết với suý phủ Pháp tại Gia Định qua trung tá Senès, kẻ đang đảm nhiệm chức vụ thuyền trưởng tàu Bô Liên (Bô Len, Bourayne), vốn trước đây đã được Dupré phái ra ngoài ấy, để quyết buộc triều đình Huế phải mở cửa biển, phải khai thông tuyến sông Hồng lên Vân Nam (Trung Quốc), nhằm mục đích cho chúng tiến hành việc buôn bán muối và vũ khí cho Vân Nam. Jean Dupuis đã quá vất vả mấy năm nay vì phải chuyên chở vũ khí theo một con đường rất xa và rất khổ nhọc trên lưng ngựa thồ, từ cửa biển Trung Hoa vào Vân Nam phải mất đến sáu tháng ròng rã (3)! Nay làm sao y chịu lỡ mất thời cơ để khai thông tuyến đường thuỷ sông Hồng: Hải Phòng – Vân Nam! Phủ suý Pháp tại Gia Định cũng thế! Tất nhiên, tham vọng của chúng không chỉ thế! Âm mưu này, Jean Dupuis, Doudart de Lagrée, Françis Garnier đã toan tính và chúng đã thực hiện các bước thăm dò, khảo sát thực địa ít ra từ tháng sáu, năm Tự Đức thứ hai mươi (1867), hồi Nguyễn Văn Tường còn là bang biện Thành Hoá (Quảng Trị). Một âm mưu đã toan tính, rắp tâm lâu dài đến thế, nay chúng không thể không làm sức ép tại Hà Nội, bằng mọi cách, kể cả việc khiêu khích, gây biến.
Nguyễn Văn Tường, Lê Tuấn được triều đình điều động từ Bắc Kì về kinh cũng vì sự thể đó. Sứ bộ được thành lập với sự bổ sung Nguyễn Tăng Doãn. Đến lúc này, tình hình càng gay gắt thêm, nhưng sứ bộ cũng chưa kịp xuống tàu thuỷ vào Nam đàm phán!
Thư của Nha Thương bạc đã tống đạt vào tên tướng thực dân Dupré: “[Đồ] Phổ Nghĩa [Jean Dupuis] ngang ngược bừa bãi. Chiểu theo hoà ước [Nhâm tuất 1862], [y và Senès] rất cùng trái lắm. Xin sức cho thuyền ấy tuân theo hoà ước, rút về” (4) .
Quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương biết tin tướng suý Pháp ở Gia Định đã gửi thư cho Đồ Phổ Nghĩa, bảo y phải rút khỏi Hà Nội (5). Nhưng ông biết rõ đó chỉ là một bức thư giả vờ, một động tác giả, nhằm đối phó với triều đình Huế, tuy viết như thế nhưng vẫn có chỉ thị mật với nội dung ngược lại. Dẫu là thực dân, nhưng bọn Pháp vẫn cố gắng tránh được chừng nào hay chừng ấy sự trắng trợn vi phạm “hoà” ước Nhâm tuất 1862. Chúng vẫn muốn lừa giáo dân nước ta và để các cố đạo thực dân dễ ăn nói! Vì cố che giấu dã tâm, bọn Pháp mượn tay tên lái buôn người Pháp làm việc cho thực dân Anh gây hấn. Trên danh nghĩa, Jean Dupuis không phải là người của Pháp suý Gia Định, cũng không phải nhân viên đặc phái của chính phủ Cộng hoà Pháp! Thuyền trưởng Senès của tàu Bourayne cũng chỉ mượn chiêu bài đánh dẹp hải tặc theo “hoà” ước Nhâm tuất 1862! Nói chung, ở Huế, phó sứ Nguyễn Văn Tường thừa biết chúng vẫn cố “lấy vải thưa để che mắt thánh” chừng nào còn che được! Ông biết chuyện quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương đã cho mời y đến để thử lại nước cờ của bọn Pháp. Quan khâm mạng hỏi Jean Dupuis:
- Ông đã nhận được thư của ngài Pháp suý Gia Định? Bản chức đã được triều đình bản quốc thông tư, rằng tướng Du Bi Lê (Dupré) đã gửi thư yêu cầu ông phải rút khỏi Hà Nội và rút khỏi bất kì nơi đâu trên lãnh thổ Đại Nam. Bản chức muốn được nghe lời cáo biệt của ông!
- Thư nào? Thư yêu cầu như thế ư? Ồ, vâng, tôi có nhận được. Tuy nhiên, ơ hay, việc gì tôi phải tuân lệnh tướng Dupré! Tôi là thương gia, đâu phải sĩ quan của Pháp, cũng chẳng là nhân viên Chính phủ Pháp, thưa ngài! Cho nên, lá thư của tướng Dupré không buộc tôi “cáo biệt” Bắc Kì này được!
Quan Vũ hiển điện đại học sĩ, khâm mạng đại thần, kinh lược sứ Bắc Kì Nguyễn Tri Phương nén giận trước sự man trá, giảo quyệt của Jean Dupuis. Nếu chỉ y, cho dẫu quân của riêng y đến mấy trăm tên, kể cả lính của tổng đốc Vân Nam, với số vũ khí lên đến bảy nghìn (7.000) cây súng, ba mươi (30) cỗ đại bác và vô số đạn dược (6), thì đâu khó gì mà quan triều đình dưới quyền Nguyễn Tri Phương không đuổi y được! Thật ra, triều đình Huế và quan khâm mạng thừa biết, sau lưng tên Jean Dupuis quỷ quyệt này là cả nước Pháp và liên quân các nước Âu Mỹ!
- Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis)! Bản chức thừa biết ông chỉ là cái bung xung, cái ngòi nổ cho tướng Pháp và cả nước Pháp mà thôi! Nhưng dẫu sao mặc lòng, lá thư của suý phủ Pháp Du Bi Lê (Dupré) là có thật! – Quan khâm mạng họ Nguyễn cẩn trọng thử thêm một lần nữa –. Nếu ông không tuân lệnh tướng Du Bi Lê (Dupré), thì ông rơi vào trường hợp đơn phương vô cớ xâm phạm lãnh thổ của nước Đại Nam chúng tôi, hẳn sẽ nguy to cho ông đấy!
- Thưa ngài, – Jean Dupuis cười khẩy –, tôi chỉ là một thương gia. Tôi xin lặp lại yêu cầu: Ngài hãy cho khai thông tuyến sông từ Hải Phòng lên Vân Nam, và bỏ lệnh cấm buôn bán muối cho miền nam Trung Quốc. Ngài không thấy đoàn tàu thuyền của tôi treo cờ có chữ “Mã” (7), họ của đề đốc Vân Nam, Trung Quốc đó sao! Đại Nam là thuộc quốc của Trung Hoa, ngài không tuân hành sao? Hay ít ra cũng nể vì lá cờ có chữ “Mã” trên đoàn tàu thuyền của tôi chứ?
- Ông Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) này! Ông nhầm to rồi! Nước Đại Nam chúng tôi là một nước độc lập, tự chủ, giữa Việt – Hoa không phải “ra lệnh, tuân lệnh” với nhau được! Triều cống chỉ là xã giao, hữu nghị, “hậu vãng bạc lai”!
Thật lòng, Jean Dupuis cũng hơi ngạc nhiên, nhưng liên hệ với vốn liếng thực tế mà y thu thập được, y thấy quan khâm mệnh Nguyễn Tri Phương nói đúng: người Trung Quốc không có quyền xuôi thuyền trên sông Hồng ngang qua Bắc Kì, và miền nam Trung Quốc cũng không được mua muối Bắc Kì như y đang cố khai thác mối lợi trước mắt khá ngon ăn này. Ngẫm nghĩ một lúc, Jean Dupuis nói:
- Chỉ có mỗi một liên quan giữa tôi với nước Pháp là quốc tịch tôi đang mang. Tôi sẵn sàng bỏ quốc tịch Pháp (5), và sau đó sẽ tìm kiếm một nước Âu Mỹ khác, để đạt cho bằng được mục tiêu mở tuyến đường thuỷ sông Hồng, tức là sông Cái hoặc còn gọi là sông Kói này! Tướng Dupré làm gì tôi tốt nào! Mặc xác cái “hoà” ước Nhâm tuất 1862 của nước Pháp với nước Đại Nam! – Jean Dupuis không ngờ y đóng kịch đạt đến thế –.
Ở kinh đô Huế, phó sứ Nguyễn Văn Tường để tâm theo dõi tình hình ở Bắc Kì. Ông đã đọc rất kĩ các tập tâu của Nguyễn Tri Phương đệ gửi vào vua Tự Đức. Trong tập tâu gần đây nhất của quan Vũ hiển, kinh lược sứ, Nguyễn Văn Tường thấy rõ nhận định của Nguyễn Tri Phương về Jean Dupuis: “Lời nói nhiều điều doạ nạt” (5)! Nguyễn Văn Tường vốn trầm tĩnh, cũng không thể nén giận!
Trong những ngày thượng tuần tháng sáu nhuận năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, Quý dậu (1873) này, phó sứ tạm hàm tham tri Bộ Lễ còn nhận được thông tin về mối quan hệ giữa cố đạo Nghệ An Gauthier (Ngô Gia Hậu, thầy của Nguyễn Trường Tộ) với Jean Dupuis. Chính tổng đốc Nghệ An Tôn Thất Triệt tâu báo, quân thám báo đã nhặt được thư Jean Dupuis trả lời giám mục thực dân Gauthier (5), với nội dung nói về việc góp vốn buôn bán từ Bắc Kì lên Vân Nam! “Buôn bán” những gì? Đã quá rõ! Hãy nhìn những thùng vũ khí hiện đại và muối biển trên tàu thuyền của y đang buông neo tại Hà Nội! Vua Tự Đức xác nhận : “Việc ấy sự tất có đến thế” (5)! Đó là xác nhận sau khi điều tra thủ bút! Ngay lập tức, nhà vua sai quan Thương bạc viết thư cho suý phủ Pháp tại Gia Định, đồng thời “lại sai sao bản dịch của tỉnh Nghệ An, mật giao cho Nguyễn Tri Phương và các quan tỉnh ở Bắc Kì, [dặn] hết lòng phòng bị, cần phải mười phần [phòng thủ] vững bền, để ngăn ngay từ đầu” (5) âm mưu trong mối quan hệ giữa “tả đạo” Nghệ An với tên lái buôn Jean Dupuis! Nguyễn Văn Tường biết ngay, nếu sự biến xảy ra, sẽ không chỉ ở Bắc Kì (từ Ninh Bình trở ra) mà cả Nam Đàng Ngoài (Thanh – Nghệ – Tĩnh)! Và ông nhận thức nhiệm vụ đàm phán sắp khởi hành thật không dễ dàng chút nào! Không chiến tốt, không thủ tốt, làm sao có thể đàm cho thắng lợi? Từ năm năm trước, ông chẳng dâng sớ lên vua Tự Đức với mục đích vạch trần âm mưu thực dân Pháp cố lừa ta ngồi vào bàn “hoà” nghị để phải kí thêm “hoà” ước mới, nhượng đứt bằng cách hợp thức hoá chủ quyền cho chúng ba tỉnh Miền tây Nam Kì mà chúng đã chiếm đoạt từ năm Bính dần (1867)! Gần đây tình hình càng bi đát hơn, bi đát đến mức triều đình và vua Tự Đức bỏ vuột mất thời cơ khi chiến tranh Pháp – Phổ 1870 – 1871 nổ ra với sự thất bại thảm hại của Pháp! Phân tích tình hình, tương quan lực lượng, Nguyễn Văn Tường thấy Pháp đang suy yếu, mới gắng phục hồi trong vỏn vẹn hai năm gần đây, nhưng đến nay ta thật sự cũng sức cùng lực kiệt bởi bọn giặc Cờ và phỉ Bắc. Thời điểm này, chúng vẫn muốn gây chiến để ép ta ngồi vào bàn hội nghị và có khả năng gây loạn lạc khắp Đàng Ngoài (từ Hà Tĩnh trở ra)! Phó sứ Nguyễn Văn Tường thật lòng rất băn khoăn, ngần ngại, nhưng không biết sẽ làm thế nào!
Lại được tin thêm về việc cố tình gây rối của Jean Dupuis! Tên thực dân lái buôn này bất chấp mọi can ngăn, thuyết phục, kể cả việc chỉ rõ vai trò bung xung, ngòi nổ mà y đang bị lợi dụng, y vẫn tiếp tục cho tàu thuyền lên đến thượng du tỉnh Hưng Hoá, tìm cách móc nối, ngầm thông với bọn giặc Cờ vàng Hoàng [Sùng] Anh (8)! Quan tuyên sát đổng sức đại thần Nguyễn Tri Phương ra mật lệnh cho các nơi canh phòng nghiêm mật, lại phái viên ngoại lang tuỳ phái Trần [Thúc] Nhượng đến các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, Hải Dương khám xét, đốc thúc việc canh gác, phòng thủ các đường sông hiểm yếu (8).
Như vậy, ngày càng rõ ràng là tên bung xung lái buôn muốn thực tâm gây hấn, theo lòng thực dân hám lợi của y và của Chính phủ Pháp lẫn của suý phủ Pháp tại Gia Định. Như thế, không nghi ngờ gì nữa, từ đầu năm ngoái (1872), Jean Dupuis về Pháp để mua vũ khí, tiếp tục thực hiện kế hoạch “chở súng đạn cho người Tàu đánh nhau” (9), cho bọn giặc Cờ quấy rối nước ta, từ năm, bảy năm trước. Lúc đến Paris, y có tiếp xúc với cả bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp Pothuau (10). Pothuau tuy dè dặt nhưng cũng “giới thiệu” y cho thiếu tướng D’Arbaud, kẻ đang đảm nhiệm thay chức vụ thống đốc Nam Kì trong thời gian Dupré nghỉ phép (10). Thật ra, đó là tấn tuồng che giấu âm mưu xâm lược Bắc Kì!
Tháng sáu nhuận, Quý dậu (1873) năm nay, dù ngoài quê nhà Quảng Trị đã mưa được vài cơn mưa nhỏ, làm dịu gió nóng, nắng lửa, ở kinh đô Huế cũng vẫn chỉ dịu bớt phần nào. Nhưng tình hình chính trị vẫn không hề giảm nhiệt độ, lại đang tăng lên từng ngày một, bởi chỉ một tên “lái buôn” bung xung Jean Dupuis!
Ngày mười sáu tháng sáu nhuận (08.08.1873) ấy, sứ bộ đã phải xuống tàu hơi nước để lên đường (11)!
Thuyền Mẫn Thoả dẫn đầu, tiếp sau là thuyền Viễn Thông (11)! Hai chiếc thuyền hơi nước đưa sứ bộ và đoàn tuỳ tùng vào Gia Định trên sóng biển không hề lặng sóng…
Lên tàu, ngoảnh lại, quan phó sứ Nguyễn Văn Tường thấm hiểu tình hình Bắc Kì ngày càng nóng lên, đến mức bức bối. Thêm vào đó, ở Bình Định, tổng đốc Ngãi – Định Hoàng Văn Tuyển lại tâu xin cho mở lò tư nhân để đúc tiền, tất nhiên dưới sự kiểm sát của quan chức. Vua thấy cũng tiện, chuẩn y. Nào ngờ khách buôn người Hoa nước Thanh liền chở tiền giả (tiền sềnh) đúc từ Tàu sang, thông đồng với chủ lò Hoàng Đình Quan (12)! Tiền giả! Tiền sềnh! Tiền giả! Tiền sềnh! Lại một nguy cơ lan tràn phải chận đứng! Lò đúc tiền ngay lập tức bị dẹp bỏ, có điều nhiệt độ thời sự lại càng bị nung đốt! Nhiệt độ lại nung đốt thêm cũng do vụ Ông Ích Khiêm, Trương Văn Đễ bất tuân tướng lệnh của hai vị quan Vũ hiển Nguyễn Tri Phương, thống đốc Hoàng Tá Viêm, phải bị cách chức, bị trói, dẫn độ về kinh đô chịu nghị xử! “Trước đây, bọn giặc vây bức đồn Phong Đăng, quan khâm mạng Nguyễn Tri Phương, thống đốc Hoàng Tá Viêm muốn nhân lúc [giặc] bỏ trống, đánh úp lấy sào huyệt giặc ở Đại Đồng, giục ngay phải tiến đến đồn để tiếp việc. Bọn Ích Khiêm lấy cớ giặc nhiều, đường hiểm, từ chối, lại đều lấy bệnh tình, đóng lùi lại. Bọn Tri Phương cho là mượn cớ để ở lại, ngại khó, chọn thuận tiện, làm tập tâu hặc tội. Vua chuẩn cho lập tức bắt trói đưa về kinh, giao đình thần nghiêm nghĩ. Đến nay án nghĩ xử: Bọn ấy tiến hay ở lại, tự do, không theo lệnh tướng, xin cách chức cho làm việc chuộc tội. Vua chuẩn y án nghĩ, phát đi theo sai phái ở quân thứ Tuyên Quang” (13). Và tin Ngụy Khắc Đản chết vì bệnh (14)! Những nguồn tin ấy, qua những nơi tàu cập bến, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, sứ bộ đều được trung sứ (sứ thần giao liên giữa triều đình với sứ bộ) trình báo!
Chỉ một thoáng mưa mát dịu là khi nhận được thông tin về huyện Thành Hoá (thuộc Quảng Trị). Ấy là khâm phái Phan Khắc Kiệm đến chín châu mường, châu bạn thuộc huyện để uỷ lạo, cấp vải muối, mặc dù Lào đã chiếm lại ba châu (15)!
Cuối tháng sáu nhuận đó, kinh đô Huế mới tràn ngập một trận mưa thật lớn, thấm đẫm đất trời (2). Tuy nhiên, bấy giờ, lúc một giờ sáng ngày hai mươi ba nguyệt lịch, sứ bộ đang lâm vào cảnh vất vả vì hệ thống nồi hơi nước của tàu thuỷ bị nổ (16). Tàu ngập tràn nước sôi, sôi sùng sục, bốc khói nóng bỏng, sôi và bốc khói cả khi nước đã tràn ra khắp hầm tàu! Tàu thuyền phải lênh đênh nổi trôi theo sóng gió ở Hòn Khô (thuộc Bình Định) và suýt mắc cạn ở đấy (16)! Nửa đêm hai mươi bốn, theo lệnh của chính sứ Lê Tuấn, viên lính tên Hiền và viên suất đội Linh chèo thuyền đi trưng dụng các thuyền đánh cá dọc bờ biển để kéo tàu. Sáng hai mươi lăm, phó sứ Nguyễn Văn Tường cùng tham biện Nguyễn Tăng Doãn và vài viên tuỳ tùng khác vào làng Đông Lương trưng dụng thêm mười tám thuyền đánh cá của các làng phụ cận để hợp sức kéo tàu vào bờ. Mãi đến tám giờ tối, tàu mới vào đến bãi Vũng Tồ để buông neo, tìm cách chữa lại hệ thống nồi hơi nước (16)!
Trong khi đoàn thuỷ thủ đang ra sức chữa tàu, linh mục Nguyễn Hữu Cư (còn gọi là cha Thơ) đang đưa linh mục Martin - Henri Brillet (có tên Việt là Hiền) và giáo sĩ giúp việc thường gọi là chú Quy đến các xóm đạo Kẻ Thử, Quán Ngỗng, Gò Thị, Cửa Giả để thăm cậu Tám, thăm giám mục Eugène-Etienne Charbonnier (cố Trí), thầy Quyên, thầy Nhựt (17). Chủng viện Gò Thị ở Bình Định vốn là nơi linh mục Nguyễn Hữu Cư (1835 – 1892) từng tu học vào những năm tuổi ông ta mới lên mười (1845 – 1849), trước khi sang Pénang, nơi đào tạo linh mục “tả đạo” người bản xứ Viễn Đông (17)! Bình Định cũng đang và sẽ là điểm nóng của vấn đề lương – giáo! Linh mục Nguyễn Hữu Cư, cũng như linh mục Nguyễn Hoằng, cảm thấy thật lạc quan: Năm 1873 này, tại chính trường nước Pháp, phái quân chủ Thiên Chúa giáo đã lên cầm quyền trở lại (18)!
Phó sứ Nguyễn Văn Tường nhìn ra biển rộng, sau khi mải mê giám sát, động viên thuỷ thủ chữa tàu. Ông quay sang tham biện Nguyễn Tăng Doãn, khẽ nói:
- Mấy viên linh mục biến vào các xóm đạo rồi phải không? – Không đợi Nguyễn Tăng Doãn, vốn là bạn đồng hương cũng là đồng liêu trả lời, ông lại phàn nàn –. Chúng ta lâm vào thế thật lúng túng, đến mức phải sử dụng cả những tên giáo sĩ, linh mục nhị trùng, hai mặt!
- Linh mục Nguyễn Hữu Cư là người làng Cao Xá, cũng Quảng Trị mình, tuy gốc là làng Mỹ Hương, Quảng Bình! Hình như không đến nỗi vô lương tâm lắm. Y đã cộng tác với triều đình để dịch thuật từ năm Tự Đức thứ hai mươi (1867) đến nay (17).
- Còn linh mục Nguyễn Hoằng (Hoàng)? Y người Hà Tĩnh (19). Không biết thế nào! Nhưng dẫu sao, sứ bộ mình phải tự lực là chính. Chúng ta vẫn có những viên hành nhân thông ngôn của ta. Bản thân quan tham biện và tôi cũng phải chủ động trong vấn đề Pháp ngữ này. Ta chỉ thua kém trong cách phát âm mà thôi.
Phó sứ Nguyễn Văn Tường và tham biện Nguyễn Tăng Doãn vẫn kín đáo chuyện trò, bàn bạc trong khi chờ tàu sửa chữa xong. Những ngày này, chính sứ Lê Tuấn đang say sóng và cứ áp tay vào cổ họng. Ông lại trở cơn viêm họng mạn tính (20).
Bình Định vẫn không mưa. Tại bờ biển Vũng Tồ này, hơi nước biển chừng như mặn hơn trong nắng chói chang.

2

Trong khi chờ buổi trình diện của Françis Garnier, tướng Dupré ngồi nhấm nháp tách cà phê với điếu xì gà, một loại thuốc vấn bằng lá thuốc như nông dân nước ta thường tự trồng, tự cuốn lấy, to bằng ngón tay cái. Tên tướng này được gọi nguyên tên họ là Marie - Jules Dupré (1813 – 1881), xuất thân từ hạ sĩ quan, từng tham chiến xâm lược tại châu Phi ở xứ Madagascar, đảo Réunion, hiện là thống đốc Nam Kì (21). Dupré đang vào tuổi sáu mươi, y thấy mình cũng đã hơi mỏi mệt. Y nhìn giữa hai ngón tay kẹp điếu thuốc, những sợi khói xì gà bốc lên một vài tấc thẳng đứng trước khi uốn éo lan toả. Y ngẫm nghĩ, thử nhẩm tính từ ngày sang đây nhậm chức, 01.4.1871 (22), đến đợt nghỉ phép dài đến hơn chín tháng, 04.3.1872 – 16.12.1872 (22). Suốt gần chín tháng rưỡi ấy, thiếu tướng D’Arbaud sang làm quyền nhiếp thay y (22). Nhưng dẫu y hay D’Arbaud thì cũng thế. Và cũng đều như thế, từ thống đốc Nam Kì đầu tiên là Bonard, nhậm chức trong các năm 1861 – 1863, đến De la Grandière rồi Roze… sau đó, tất cả đều đã toan tính từng bước xâm chiếm toàn cõi Đông Dương (Việt – Miên – Lào). Dupré cười một mình với nụ cười nham hiểm, đôi môi mỏng dính dưới hàng râu mép đỏ quạch. Thật lòng y nham hiểm một cách hết sức bình tâm, không hề ý thức nham hiểm là tội ác!
Lúc này, lan man theo ý nghĩ, Dupré chợt nhớ từ năm 1872, y đã gặp gỡ nhiều chính khách Pháp tại Paris, và đã giải thích cho họ: “Nhận thấy rằng quyền lợi của nước Pháp là đặt chân lên Bắc Kì, ít ra là để củng cố Nam Kì” (23). Dịp ấy, vào ngày 22.12.1872, gần đến Lễ Giáng sinh, Dupré đã viết thư gửi Chính phủ Pháp: Phải chiếm lấy Kẻ Chợ (Hà Nội) để buộc vua Tự Đức chấp nhận giao hẳn ba tỉnh Miền tây Nam Kì cho Pháp; vả lại, Đức lẫn Anh cũng đều đang nhòm ngó Bắc Kì, nên không thể để chậm trễ (24)! Dupré cũng nhớ, trong một bức thư gửi cho bộ trưởng Hải quân Pháp vào ngày 19.5.1873, y đã viết: “Việc chúng ta thiết lập cơ sở trong xứ [Bắc Kì] phì nhiêu này, [xứ đó vốn là] láng giềng của nước Tàu và là ngõ xuất phát cho những tỉnh tây nam giàu có của nước này [tức là nước Tàu ấy], là một vấn đề sinh tử cho tương lai nền đô hộ của ta ở Viễn Đông (25) […]. Chúng ta phải đặt chân lên đất này, có thể bằng cách đồng minh với Tự Đức để mà lập lại uy quyền của nhà vua, hoặc là bằng cách chiếm đóng bằng quân sự…” (25). Đầu tháng 06.1873, Dupré đã nghe Millot, người của Jean Dupuis, quả quyết theo nhận định của tên lái súng ấy: “Tự tôi có sức đánh được quan lại triều đình Huế, lập lại nhà Lê và đặt Bắc Kì dưới quyền đô hộ của Pháp mà Pháp không phải tốn một người nào, cũng không phải tốn một xu nào. Nếu thống đốc [Dupré] muốn tự mình hành động thì hai trăm (200) lính đủ làm cho Bắc Kì trở thành thuộc địa của Pháp” (26). Thật quá dễ dàng và thuận lợi! Do đó, Dupré còn báo cáo về Pháp: “Bắc Kì là miếng mồi dễ ăn” (27). Cũng vào tháng 06.1873, chính Dupré lại đề nghị với Paris: “Mặc dầu hiện nay có những sự khó khăn, nên cho phép chúng tôi dùng vũ lực xâm chiếm đồng bằng sông Hồng Hà” (28). Ngày 28.07.1873, cũng chính y lại viết: “[Khi] Bắc Kì đã được khai phóng bằng sự thắng lợi của Dupuis (đi lên Vân Nam), [sẽ] tác động lớn lao trong thương mại Anh, Đức, Mỹ; tuyệt đối cần thiết phải chiếm Bắc Kì và đưa về tay Pháp cái đường thông thương duy nhất này. Tôi không cần có viện binh gì cả. Tôi làm với khả năng mà tôi có. Chắc chắn thành công” (29). Nhưng Paris dè dặt, vì nước Cộng hoà thực dân Pháp đang cố thoát ra khỏi cơn khủng hoảng sau thảm bại trước đế quốc Đức. Chính phủ Pháp tại Paris điện trả lời: “Dù với duyên cớ nào, với lí do nào, cũng không được làm cho Pháp quốc phải dính líu ở Bắc Kì” (30). Đó là do khó khăn mà tạm hoãn, chứ tham vọng xâm chiếm Bắc Kì và toàn cõi Đông Dương ở chúng có bao giờ tự dập tắt! Dẫu sao, ở thời điểm này, Dupré cũng thấy rõ tình tình, và mới đây y đã nói với viên lãnh sự Pháp tại Quảng Châu (Trung Hoa): “Hắn ta [:Jean Dupuis] hành động ở Bắc Kì như một xứ đã chiếm được. Và chính phủ [:triều đình] nước [Đại] Nam quả là quá yếu đuối mới nhờ tôi đuổi anh ta khỏi nơi [Bắc Kì] này, như chánh phủ ấy hiện đang làm. Nếu Dupuis với những lực lượng tệ hại của anh ta mà đã làm cho họ thất bại, thì đối với ta, nếu muốn đặt chân vào xứ [Bắc Kì] này, thật không tốn kém gì bao lăm” (31). Nhưng Dupré thấy đã đến lúc phải điều động Garnier, và Garnier từ Thượng Hải (Trung Hoa) đã về, từ hôm trước. Chính ngày 16.8.1873 (24.6 nhuận, nguyệt lịch) ấy, lúc Françis Garnier đặt chân đến Gia Định để trình diện Dupré (32), cũng là ngày hệ thống nồi hơi nước của tàu thuỷ sứ bộ Đại Nam mới bị nổ ở ngoài khơi Hòn Khô (thuộc Bình Định), vào lúc đầu giấc khuya về sáng, và con tàu đang trôi nổi lênh đênh!
Françis Garnier đã đưa vợ con về Thượng Hải (Trung Hoa). Lòng đã tạm yên, Françis Garnier, tên thực dân được sinh ra đời vào năm 1839 tại thành phố Saint Etienne thuộc tỉnh Loire ở Pháp (33), bước vô văn phòng tên cáo già Dupré. Sau cái đưa tay lên trán nghiêm chào, Françis Garnier thưa:
- Tôi xin đợi lệnh thống đốc.
- Đại uý ngồi xuống đây.
- Vâng.
Một người lính hầu bưng cà phê ra, khẽ cúi đầu, bẩm:
- Kính mời.
- Cảm ơn.
Thống đốc Dupré mỉm cười:
- Hẳn đại uý hiểu tôi cho mời đại uý về đây có việc gì? Đó là vụ Jean Dupuis ở Hà Nội. Nhắc lại với đại uý: Ngày 19.5.1873 vừa rồi, cách đây khoảng ba tháng, tôi đã gửi điện cho Paris với đề nghị thực hiện xâm chiếm Bắc Kì, hoặc ít ra cũng bắt buộc Huế phải mở cửa biển Hải Phòng để thông thương theo tuyến sông Hồng lên Vân Nam. Từ năm 1867 đến nay, sau khi xâm chiếm hẳn ba tỉnh Miền tây Nam Kì, ta vẫn đang dẫm chân tại chỗ, chưa tiến thêm bước nào. Vấn đề Bắc Kì, từ năm 1864, cố trung tá Doudart de Lagrée sau khi đặt được nền bảo hộ Pháp trên nước Cao Mên (34), ngay lập tức đã cố thăm dò sông Mê Kông, và từ đó tuyến sông Hồng thành mục tiêu thông thương của chúng ta. Nhưng trong thực tế, đến nay, tình hình đã chín muồi. Không thể để muộn hơn. – Tên thực dân cáo già Dupré cười nham hiểm –. Vụ đại uý gặp Jean Dupuis ở Hán Khẩu năm năm trước, nay đã rất tốt (35). Đó là việc phải tiếp tục tiến hành tại Bắc Kì…
- Vâng, tôi đã xin vâng lệnh thống đốc. Nhưng có lẽ tôi phải được phép thống đốc cho nghỉ ba tuần để lại sang Thượng Hải xếp đặt cho vợ con chu đáo hơn. Nhận lệnh, đi gấp, nên vợ con tôi vẫn chưa thật ổn định… Ba tuần, thời hạn không lâu. Chắc thống đốc vui lòng…
- Được. Trong dịp đó, đại uý nên nghiên cứu thêm về lai lịch Jean Dupuis của nước Pháp chúng ta. Thương gia này vốn là người Pháp chính tông, sinh ra đời năm 1833, trong một hộ phú nông. Đấy là một người phiêu bạt, đã lìa nhà năm hai mươi lăm tuổi, sang làm việc tại vùng kênh đào Suez, lại từng theo quân Pháp quốc chúng ta sang đánh Tàu. Sau đó y ở lại Tàu và phục vụ trong một đoàn thám hiểm Anh. Y đã như một người Tàu chính cống. Lâu nay y chuyên buôn bán súng đạn cho người Tàu đánh nhau và hiện giờ vẫn đang tiếp tục bán súng đạn cho bọn giặc Cờ (tàn quân Thái bình thiên quốc)… Y còn buôn bán muối và thu về quặng kẽm…
- Vâng, tôi cũng đã biết ít nhiều.
- Đại uý nên nhắc lại cho tôi quá trình phục vụ trong lực lượng hải quân Pháp của chính đại uý (36)!
- Tôi năm nay ba mươi bốn tuổi, người Pháp, đã học Đại học Văn khoa, lại ham cả khoa học tự nhiên, từng sống tại Paris, đã vào học Trường Võ bị Vincennes, lại học về môn võ khí tại Trường Hải quân Lorient. 1860, tôi sang châu Á, trước hết là chiến đấu ở Trung Hoa. Sau đó, sang Đại Nam, tôi phục vụ dưới trướng trung tướng Charner, từng chạm trán với danh tướng Nguyễn Tri Phương tại đại đồn Kỳ Hoà. 1863, tôi đảm nhiệm chức thanh tra Nam Kì dân sự vụ, cai trị trực tiếp Chợ Lớn. Tiếp theo, tôi là thành viên rồi trưởng đoàn thám hiểm Mê Kông cho đến 19.6.1868. Tôi có dự vào cuộc chiến Pháp – Phổ, 1870 – 1871, và viết báo, diễn thuyết về sông Mê Kông và sông Hồng. Tôi mới cưới vợ được vài năm (36)… Thưa thống đốc, tôi báo cáo đã hết. Xin được nhận tiếp nhiệm vụ.
- Thôi, được. “Tôi cho gọi anh về để nói chuyện với anh về công việc ở Bắc Kì… Công việc Bắc Kì hiện nay có thể tóm lược lại trong hai chữ: Jean Dupuis” (37). Tôi nhắc lại như thế. Anh cũng rõ, có người từng nhận định: “Nếu sông Cái [:sông Hồng] trong hai tuần lễ [đã] đưa [được] các thương thuyền Trung Hoa đến vịnh Bắc Kì, ta chỉ còn buộc Tự Đức kí một thương ước bảo đảm tự do ra vào các hải cảng Bắc Kì. Từ Hải Phòng, tàu Pháp và tàu bản xứ lần dọc theo bờ biển Trung Kì trong mấy ngày sẽ đổ bộ lên Sài Gòn vô số những tài nguyên mà từ trước chỉ được tải đến Quảng Châu [Trung Hoa]” (38). Và chính Jean Dupuis đã bước đầu nhận định, báo cáo: “Việc đánh lấy thành Hà Nội […] có một tiếng vang lớn trong toàn cõi. Sự tập kích mau lẹ do một nhóm người [Pháp] làm cho quan dân đều kinh hoàng. Bọn dư đảng nhà Lê tất nhiên đặt hi vọng lớn lao vào sự việc này; mà dư đảng nhà Lê, thật sự là toàn dân của xứ Bắc Kì [:Đàng Ngoài], ngoại trừ bọn quan lại từ các tỉnh phía nam sông Gianh [:Đàng Trong] đến… Lòng tin tưởng của dân chúng đặt vào nước Pháp, sự bất lực của quan lại…, đó là những gì […] khiến cho nhiều đô thị do hàng ngàn người chống giữ mà đầu hàng trước một nhóm người [Pháp]…” (39). Đúng ra, hỗ trợ và ủng hộ người Pháp chúng ta là bọn dư đảng trung thành với nhà Lê và nhất là giáo dân Thiên Chúa giáo! Câu ấy Jean Dupuis vừa viết ở thì hiện tại và thì tương lai, nhưng sau này, tôi đoan chắc y cũng sẽ lại viết như thế với thì quá khứ đã hoàn tất! Thế đấy! Bây giờ, anh sẽ được nghỉ phép ba tuần. Bấy giờ, trong thời gian ba tuần ấy, sứ bộ Đại Nam cũng đã đến đây. Lúc này họ đang trên đường vào. Tất nhiên ta phải chuẩn bị làm sức ép để sứ bộ Đại Nam và triều đình Huế chấp nhận yêu sách của ta. Tôi nhận định: Sứ bộ này không non nớt như sứ bộ Phan Thanh Giản hồi 1862! Sẽ căng thẳng lắm đấy!

Hết tệp 1 truyện kí thứ 7

Viết đến dòng chữ cuối của truyện kí thứ 7
vào lúc 11 giờ kém vào lúc 11 giờ kém 05 phút,
ngày 09.11.2002
(05.10 Nh. ngọ, HB.2).


TRẦN XUÂN AN


(1) Khổng Tử trả lời Tử Cống, Luận ngữ (Dương hoá, XVII), dẫn theo Trần Trọng Kim, Nho giáo, Nxb. Tp.HCM. tái bản, 1992, tr. 101.

(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên, tập 32, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1975, tr. 312.

(3) Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Tri Phương (NTP.), Nha Văn hoá, Bộ VH. & GD. xb., Sài Gòn, 1974, tr. 176.

(4) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 305.

(5) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 305 – 306.

(6) NTP., sđd., 1974, tr. 178.

(7) Dương Kinh Quốc, Việt Nam, những sự kiện lịch sử (VN.NSKLS), tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 146; ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 322: Tuần phủ Vân Nam, năm Đồng Trị thứ 8 (1869), có họ là Sầm. Mã là họ của một viên tướng (đề đốc) ở tỉnh ấy. Xem thêm: GS. Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng, Nxb. Tp. HCM. tái bản, 2001, tr. 290, 293 - 294.

(8) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 307.

(9) NTP., sđd., 1974, tr. 176.

(10) NTP., sđd., 1974, tr. 177 – 178.

(11) Tập san Những người bạn cố đô Huế (NNBCĐH.) (Bulletin des amis du vieux Huế [BAVH.], Cadière làm chủ bút.), bài “Hoà ước 1874, Nhật kí của thư kí sứ bộ An Nam” của linh mục Nguyễn Hữu Cư, tập VII (1920), Bửu Ý, Đặng Như Tùng dịch, Nxb. Thuận Hoá, 2001, tr. 466. Phải chăng bài này do H. Peyssonnaux, thanh tra mật thám, Bùi Văn Cung, thư kí chánh ngạch [Ban] Ngoại kiều biên tập [?]? Chẳng hiểu tại sao trong NNBCĐH., sđd., tên của Nguyễn Hữu Cư lại chỉ in ở phần chú thích, trong khi đó hai cái tên H. Peyssonnaux, Bùi Văn Cung lại được in ở chỗ thường là in tên tác giả, khiến người đọc ngỡ Nguyễn Hữu Cư còn có cái tên Pháp là H. Peyssonnaux!

(12) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 306 – 307.

(13) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 309 – 310.

(14) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 312.

(15) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., 1975, tr. 309.

(16) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 466.

(17) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 466 – 467.

(18) GS. Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng (CXL.), Nxb. Tp. HCM. tái bản, 2001, tr. 288.
(19) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 41 (năm Tự Đức thứ 19 [1866]). Xem thêm: NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 465.

(20) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 468.

(21) NNBCĐH., bài đã dẫn, sđd., 2001, tr. 470.

(22) Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVP. & TH.), UB.KHXH. TU. Tp.HCM. xb., 1993, tr. 106.

(23) Jean Dupuis, Les Evènements du Tonkin, dẫn theo GS. Trần Văn Giàu, CXL., sđd., 2001, tr. 294.

(24) CXL., sđd., 2001, tr. 294.

(25) Amiral Dupré à consul canton 26.06.1873, dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 181; CXL., sđd., 2001, tr. 294.

(26) Archives du ministère de la Marine et des Colonies, dẫn theo GS. Trần Văn Giàu, CXL., sđd., 2001, tr. 295 – 296.

(27) Dẫn theo, CXL., sđd., 2001, tr. 292 (xem chú thích (23)).

(28) Dẫn theo, CXL., sđd., 2001, tr. 295.

(29) Dẫn theo, CXL., sđd., 2001, tr. 295; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (VNSL.), Nxb. Tân Việt, bản 1964, tr. 512.

(30) Dẫn theo, NTP., sđd., 1974, tr. 181.

(31) Dẫn theo, NTP., sđd., 1974, tr. 181; CXL., sđd., 2001, tr. 297.

(32) NNBCĐH., bài đã dẫn, chú thích của Cadière, sđd., 2001, tr. 476.

(33) NTP., sđd., 1974, tr. 175 – 176.

(34) NTP., sđd., 1974, tr. 172.

(35) NTP., sđd., 1974, tr. 177.

(36) NTP., sđd., 1974, tr. 173 – 174.

(37) NTP., sđd., 1974, tr. 176.

(38) Roger Vercel, Françis Garnier l’assaut des Fleuves, dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 177.

(39) Jean Dupuis, Les Evènements du Tonkin, dẫn theo Đào Đăng Vỹ, NTP., sđd., 1974, tr. 202 – 203.

Soạn xong phần chú thích
lúc 09 giờ 25 phút, ngày 14.11.2002
(10.10 Nh. ngọ, HB.2).

TRẦN XUÂN AN

Hết tệp 1 (PHÂN ĐOẠN 1 TRUYỆN KÍ THỨ 7)
xin xem tiếp tệp 2
(Phân đoạn 2 truyện kí thứ 7)